vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 23/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt Phan Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày bắt thi hành án. Về bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 13/2022/HS-ST Tuyên án 23/03/2022
Phúc thẩm Bản án 55/2022/HSPT Tuyên án 22/07/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự xét xử bị cáo Phan Văn N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày: 23-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thoan;

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Láng;

2. Bà Nguyễn Thị Nhiễu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2022/HSST- QĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Phan Văn N, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1984 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn M, xã B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: N; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Phan Văn C và bà Lê Thị M; Có vợ là chị Lê Thị Th; Có 02 con; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

- Bị hại: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Lê Thị K, sinh năm 1966,

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (Là vợ của bị hại);

2. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (Là con gái của bị hại);

3. Chị Bùi Thị Thơm, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (Là con gái của bị hại);

4. Chị Bùi Thị Linh, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (Là con gái của bị hại);

- Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Văn K, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Người làm chứng:

1. Ông Đào Văn T1, sinh năm 1975;

2. Anh Phan Văn L, sinh năm 1983;

3. Ông Bùi Thanh T2, sinh năm 1958;

4. Ông Khổng Minh H, sinh năm 1965;

Đều có địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

5. Anh Lê Văn B, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện V, tỉnh Thái Bình.

(Bà K, chị H, chị T, chị L, anh K, ông T1, anh L, ông T2, ông H, anh B vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 20/9/2021, N (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, biển kiểm soát 17B9-xxx.40 từ nhà ở Thôn M, xã B, thành phố T đến xã P, huyện V để đi làm. Khi đi đến đoạn đường đê thuộc thôn S, xã P, lúc này khoảng 05 giờ 20 phút; đoạn đường trải đá nhựa, thẳng, phẳng rộng 6,2m, tiếp giáp mép đường hai bên là lề đường rộng 0,5m. N đi với vận tốc khoảng 40km/h, trong điều kiện sáng sớm, thời tiết khô ráo, tầm nhìn không bị hạn chế, đi cách mép đường bên phải khoảng 02m. Quan sát phía trước, cách khoảng 07m có ông Bùi Văn L điều khiển xe đạp cùng chiều, đi cách mép đường bên phải khoảng 02m, N giữ nguyên vận tốc và bấm còi xin vượt. Khi còn cách xe ông L khoảng 02m, N thấy ông L hơi đánh lái xe sang trái nên đã điều khiển xe vượt phía bên phải, gây va chạm với xe của ông L. Toàn bộ phần bên trái xe mô tô gồm: mặt ngoài bên trái đầu trước chắn bùn bánh trước, ốp nhựa vai càng trước va chạm với mặt ngoài thanh chống đứng bên phải đỡ giá để hàng phía sau xe đạp; tiếp đến mặt trước ngoài đầu ống giảm xóc trước và ecu hãm trục bánh trước bên trái xe môtô va chạm với mặt sau dưới đuôi hộp chắn xích bên phải xe đạp, mặt trước ngoài ống giảm xóc trước bên trái xe môtô va chạm với mặt sau ngoài ống hãm và đầu ngoài trục bánh sau bên phải xe đạp, mặt trong cánh yếm bên trái xe môtô va chạm với mặt lăn và má lốp bên trái bánh sau xe đạp, mặt lăn má lốp và cạnh vành bên trái bánh trước xe môtô va chạm với mặt ngoài hộp chắn xích bên phải xe đạp. Sau khi va chạm, xe đạp của ông Lvà xe mô tô của N bị văng rê về phía trước, để lại các cụm vết cày dạng đứt quãng, ký hiệu (1A), (2), (3), điểm đầu vết (1A) dài 1,5m, rộng 0,03m, cách mép đường bên phải là 2,2m do mặt ngoài thanh kim loại định vị trục bánh sau xe đạp cọ sát xuống đường để lại; vết cày (2) dạng đứt quãng do mặt ngoài ốc hãm và ecu hãm trục bánh sau bên phải xe đạp cọ sát xuống mặt đường; điểm cuối vết (3) trùng với giá để chân trước bên phải xe mô tô, cách mép đường bên phải 2,7m, đều hướng thành phố Thái Bình đi xã T. Khi va chạm giữa hai xe thì sợi dây vải màu đen buộc trên giá đèo hàng xe đạp của ông L bị đứt để lại trên hiện trường ký hiệu là (1), tâm cách mép đường bên phải là 3,08m. Xe mô tô đổ nghiêng bên phải đầu xe hướng xã T, N bị ngã va đập xuống đường để lại đám máu nhỏ giọt, chảy loang ký hiệu (4), kích thước (1,6 x 1,2)m. Xe đạp của ông L bị đẩy, đổ nghiêng phải đuôi xe hướng mép đường bên trái, đầu xe hướng thành phố Thái Bình, trục sau xe đạp ký hiệu là (5), ông L bị ngã va đập xuống mặt đường để lại đám máu chảy loang ký hiệu là (6) kích thước (0,4 x 0,3)m. Hậu quả ông L và N đều phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Ông L chết hồi 14 giờ 34 phút cùng ngày, nguyên nhân chết bị đa chấn thương vùng đầu, mặt và toàn thân do tai nạn giao thông, làm vỡ xương sọ vùng thái dương phải, chảy máu não, chết do chấn thương sọ não. N bị đa chấn thương do tai nạn giao thông, làm tụ máu dưới màng cứng, tụ máu ngoài màng cứng, vỡ xương trán hai bên, gãy xương chính mũi, gãy xương hàm trên bên trái, gãy thành trước ngoài xoang hàm hai bên, vỡ xương trần ổ mắt hai bên, rách da và tổ chức dưới da, tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 56% (Năm mươi sáu phần trăm).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ sự việc tai nạn giao thông xảy ra vào ngày 20 tháng 9 năm 2021 như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 10/CT - VKSVT ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư đã truy tố Phan Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về bồi thường thiệt hại:

Bị cáo Phan Văn N và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 115.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên trả: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 17B9-xxx.40, đã bị hư hỏng một số bộ phận trên xe cho bị cáo Phan Văn N.

Tuyên trả: 01 xe đạp loại mini hai tuýp lượn màu xanh, đã bị hư hỏng một số bộ phận cho đại diện hợp pháp của bị hại.

Tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm nửa đầu có kính chắn gió phía trước, mũ màu trắng cam, trên mũ có dòng chữ “Hanwha life”; 01 đôi dép xốp màu trắng đã qua sử dụng; 01 chiếc dép cao su màu trắng đen (dép chân trái), mặt ngoài dép có in chữ “SPORT” dưới đế dép có số 40; 01 đoạn tre khô kích thước (14.5 x 3)cm; 01 mũ lưỡi trai tối màu; 01 áo vải dạng áo sát nách màu ghi xám, mặt ngoài phía trước thân áo có in dòng chữ “ CK- CALVIN KLEIN”; 04 mảnh nhựa màu trắng có đặc điểm kích thước khác nhau; 01 áo vải ngắn tay sáng màu, mặt trước thân áo có in dòng chữ “ ANGFUHIDZADN - NANPOWANGFUS”; 01 quần đùi vải cạp chun.

Tuyên trả cho Phan Văn N: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 340075343xxx do Sở Giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 05/4/2015 họ tên Phan Văn N, sinh ngày 10/5/1984 và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 17000xxx tên chủ xe Phan Văn N, địa chỉ: M, Tân Bình, TP T, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE ALPHA, số máy JA 39E2002xxx, số khung RLHJA3923LY002xxx.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội điều trị thương tích, sửa chữa và lao động, chăm sóc các con nhỏ phụ giúp cho gia đình vì sau tai nạn sức khỏe của bị cáo hiện rất yếu, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các chứng cứ buộc tội bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng đã truy tố và phù hợp về diễn biến, hành vi, thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh hiện trườngvụ tai nạn giao thông; Biên bản khám nghiệm tử thi và Bản ảnh tử thi; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 231/KLGĐ-PC09 ngày 30/9/2021; Biên bản khám nghiệm phương tiện và Bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Kết luận giám định số 20/KLGĐCH-KTHS ngày 12/10/2021và Bản ảnh giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Phan Văn N tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh N Định; Biên bản ghi lời khai của bà Lê Thị K1, ông Đoàn Văn T1, anh Phan Văn L, ông Bùi Thanh T2, ông Khổng Minh H, và anh Lê Văn B.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 20/9/2021, Phan Văn N có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B9-427.40 đi theo hướng từ thành phố T đến xã P, huyện V trong tình trạng đã sử dụng bia (trong máu có nồng độ cồn Ethanol: 20,2mg/dl). Khi đi đến đê sông Trà Lý, thuộc địa phận thôn S, xã P, N điều khiển xe mô tô vượt xe đạp do ông Bùi Văn L điều khiển đi cùng chiều phía trước không đúng quy định(vượt bên phải) nên đã xảy ra va chạm với xe đạp của ông L. Hậu quả làm 02 phương tiện ngã đổ trên đường, cả 02 người bị thương, đều phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Ông L chết hồi 14 giờ 34 phút cùng ngày do chấn thương sọ não; N bị đa chấn thương, tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 56%.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8; khoản 2, khoản 4 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người. Trước khi tham gia giao thông, bị cáo đã sử dụng bia (trong máu có nồng độ cồn Ethanol: 20,2mg/dl). Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

…8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.

“Điều 14.Vượt xe

...2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

...4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:

a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được”.

Điều 260 Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

……..

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng cho ông Bùi Văn L. An toàn giao thông hiện nay đang là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng, đã có nhiều chủ trương và biện pháp tích cực để hạn chế góp phần giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông nhằm bảo vệ sức khỏe, tài sản của công dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Mặc dù bị cáo đã được học, thi và cấp bằng lái xe mô tô theo đúng quy định của pháp luật nhưng do bị cáo không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nên đã để xảy ra tai nạn nghiêm trọng, hậu quả làm ông L chết.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo N có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo N đã thành khẩn khai báo; có thái độ ăn năn, hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo N đã tích cực, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do vậy, bị cáo được các hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo N còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo lần đầu phạm tội và có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bản thân bị cáo đang phải điều trị thương tích nên HĐXX cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Về bồi thường thiệt hại:

Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo N đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 115.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng và tài sản:

01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 17B9 - 427.40, đã bị hư hỏng một số bộ phận trên xe là tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Văn N nên cần tuyên trả cho bị cáo.

01 xe đạp loại mini hai tuýp lượn màu xanh, đã bị hư hỏng một số bộ phận là tài sản của bị hại nên cần tuyên trả cho đại diện hợp pháp của bị hại.

01 mũ bảo hiểm nửa đầu có kính chắn gió phía trước, mũ màu trắng cam, trên mũ có dòng chữ “Hanwha life”; 01 đôi dép xốp màu trắng đã qua sử dụng; 01 chiếc dép cao su màu trắng đen (dép chân trái), mặt ngoài dép có in chữ “SPORT” dưới đế dép có số 40; 01 đoạn tre khô kích thước (14.5 x 3)cm; 01 mũ lưỡi trai tối màu; 01 áo vải dạng áo sát nách màu ghi xám, mặt ngoài phía trước thân áo có in dòng chữ “ CK- CALVIN KLEIN”; 04 mảnh nhựa màu trắng có đặc điểm kích thước khác nhau; 01 áo vải ngắn tay sáng màu, mặt trước thân áo có in dòng chữ “ ANGFUHIDZADN - NANPOWANGFUS”; 01 quần đùi vải cạp chun không còn giá trị sử dụng, bị cáo N và đại diện hợp pháp của bị hại từ chối nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.

01 Giấy phép lái xe hạng A1 (số 340075343245 do Sở Giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 05/4/2015 họ tên Phan Văn N, sinh ngày 10/5/1984) và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy (số 17000315 tên chủ xe Phan Văn N, địa chỉ: M, xã B, TP T, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE ALPHA, số máy JA 39E2002xxx, số khung RLHJA3923LY002xxx) cần tuyên trả cho bị cáo Phan Văn N.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50; Khoản 1 Điều 54, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt Phan Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng và tài sản:

4.1 Tuyên trả: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 17B9

- 427.40, đã bị hư hỏng một số bộ phận trên xe cho bị cáo Phan Văn N.

4.2 Tuyên trả: 01 xe đạp loại mini hai tuýp lượn màu xanh, đã bị hư hỏng một số bộ phận cho đại diện hợp pháp của bị hại.

4.3 Tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm nửa đầu có kính chắn gió phía trước, mũ màu trắng cam, trên mũ có dòng chữ “Hanwha life”; 01 đôi dép xốp màu trắng đã qua sử dụng; 01 chiếc dép cao su màu trắng đen (dép chân trái), mặt ngoài dép có in chữ “SPORT” dưới đế dép có số 40; 01 đoạn tre khô kích thước (14.5 x 3)cm; 01 mũ lưỡi trai tối màu; 01 áo vải dạng áo sát nách màu ghi xám, mặt ngoài phía trước thân áo có in dòng chữ “ CK- CALVIN KLEIN”; 04 mảnh nhựa màu trắng có đặc điểm kích thước khác nhau; 01 áo vải ngắn tay sáng màu, mặt trước thân áo có in dòng chữ “ ANGFUHIDZADN - NANPOWANGFUS”; 01 quần đùi vải cạp chun.

(Các vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư,có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng và Phiếu nhập kho vật chứng ghi ngày 25 tháng 01 năm 2022).

4.4 Tuyên trả ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phan Văn N: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 (số 340075343245 do Sở Giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 05/4/2015 họ tên Phan Văn N, sinh ngày 10/5/1984) và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy (số 17000315 tên chủ xe Phan Văn N, địa chỉ: M, xã B, TP T, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE ALPHA, số máy JA 39E2002xxx, số khung RLHJA3923LY002xxx).

5. Án phí: Bị cáo Phan Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Phan Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 23 tháng 3 năm 2022). Bà Lê Thị K, chị Bùi Thị H, chị Bùi Thị T, chị Bùi Thị L, anh Lê Văn K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ