vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Lèng Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 03/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo T phạm tội vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 11 Luật giao thông đường bộ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TỈNH BẮC GIAG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày: 18-02-2022

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIAG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Văn Ngôn

2. Ông Nguyễn QuAg Kim

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Tuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Việt Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Công - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/TLST- HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Lèng Văn T, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Xuân Dung, xã Vô Điếm, huyện Bắc QuAg, tỉnh Hà GiAg; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông: Lèng Văn Tin; Con bà: Lù Thị Din; Gia đình có 03 Ah em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/12/2021, hiện đAg tạm giam tại Trại tạm giam Công A tỉnh Bắc GiAg (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

- Ông Nguyễn DAh H, sinh năm 1943 (đã chết)

Nơi cư trú: Thôn Đình Cả, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc GiAg.

Người đại diện hợp pháp của bị hại ông H: Bà Lê Thị A, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Đình Cả, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc GiAg.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA:

- Ah Vũ Văn T, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn 6, xã Phú Thọ, huyện Triệu Sơn, tỉnh ThAh Hóa.

- Ah Lê Văn N, sinh năm 1992 (vắng mặt) Nơi cư trú: Xóm 2, xã Triệu Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh ThAh Hóa.

* Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị A: Ah Nguyễn DAh H, sinh năm 1957 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đình Cả, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc GiAg.

*Người làm chứng:

- Ah Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Nội Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc GiAg.

- Ah Phạm Văn T, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đình Cả, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc GiAg.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lèng Văn T không có giấy phép lái xe mô tô. Khoảng tháng 4/2021, T đến làm thuê tại công trình xây dựng nhà ở của gia đình Ah Nguyễn Văn T, sinh năm 1980, ở thôn Nội Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc GiAg. Khoảng 10 giờ ngày 15/4/2021, T mượn của Ah Vũ Văn T, sinh năm 1983, trú quán: Thôn 6, xã Phú Thọ, huyện Triệu Sơn, tỉnh ThAh Hóa (Ah T là giám sát công trình nhà Ah T), chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 36B3- 264.21, mục đích để đến chiều cùng ngày đi lên huyện Yên Thế, tỉnh Bắc GiAg làm việc. Sau khi mượn xe, T làm việc đến trưa cùng ngày thì nghỉ ăn cơm, uống rượu rồi đi ngủ. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T nhờ một người tên là Lê Văn GiAg (T khai GiAg là người cùng làm nhưng không biết địa chỉ ở đâu) đi cùng ra đường cao tốc Hà Nội- Bắc GiAg, để khi T đón xe khách lên huyện Yên Thế thì GiAg mAg xe về trả lại Ah T. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T điều kH xe mô tô 36B3-264.21 chở GiAg đi trên đường vành đai 4 đến km 1+ 970, là nơi có ngã tư giao nhau giữa đường vành đai 4 với đường đi thôn Kẻ và thôn Đình Cả, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên. Lúc này, T điều kH xe với tốc độ khoảng 40km/h để đi vào ngã tư thì phát hiện thấy phía trước đầu xe của mình có xe đạp do ông Nguyễn DAh H, sinh năm 1943, trú quán: Thôn Đình Cả, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc GiAg điều kH đi từ bên phải sAg bên trái đường theo hướng đi của T. Sau khi phát hiện thấy ông H, T không giảm tốc độ mà đánh lái sAg bên trái để tránh nhưng do khoảng cách gần, không kịp xử lý nên bánh trước xe mô tô do T điều kH đã va chạm với với phần sườn bên trái giữa khung xe đạp do ông H điều kH làm hai phương tiện đổ, ông H, T và GiAg ngã ra đường. Hậu quả, ông H bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện quân y 110 Bắc Ninh đến ngày 16/4/2021 thì tử vong.

Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông trên, Cơ quA Cảnh sát điều tra- Công A huyện Việt Yên đã tiến hành khám nghiệm; khám nghiệm tử thi; khám nghiệm các phương tiện có liên quA đến vụ tai nạn và kiểm tra nồng độ cồn đối với Lèng Văn T.

* Kết quả khám nghiệm hiện T: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn tại Km 1+ 970m đường vành đai 4 thuộc địa phận thôn Kẻ, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc GiAg nơi ngã tư đường giao nhau giữ đường vành đai 4 với đường rẽ vào thôn Đình Cả và thôn Kẻ xã Quảng Minh. Đường trải bê tông phẳng, rộng 11,10m được chia làm 04 làn đường bằng vạch sơn. Vạch sơn ở giữa đứt quãng màu vàng rộng 0,15m, hai vạch sơn còn lại nối liền màu trắng rộng 0,20m. Hai làn đường ở giữa có chiều rộng mỗi làn 3,40m. Hai làn đường còn lại lần lượt rộng 1,75m và 2 m. Đầu đường từ thôn Kẻ ra đường vành đai 4 cách mép đường 3,5m có biển báo giao nhau với đường ưu tiên và có chiều rộng 12,10m. đường rẽ vào thôn Đình Cả rộng 14,30m. Cách ngã tư đường hướng về huyện Hiệp Hòa 154m có biển báo hiệu ngã tư đường giao nhau với đường không ưu tiên. Cạnh rìa đường vành đai 4 cách lối rẽ vào thôn Kẻ 3,5m là cửa hàng bán quần áo.

Phải trái hiện T theo hướng huyện Hiệp Hòa đi xã QuAg Châu, huyện Việt Yên, lấy mép đường bên phải làm chuẩn. Trên mặt đường để lại:

Vết trượt xước (ký hiệu số 1), kích thước (3,14 x 0,01)m, đầu vết cách mép đường bên phải 3,20 m, cuối vết là góc bên phải gác ba ga xe đạp và cách mép đường bên phải 4,04m.

Xe đạp (ký hiệu số 2), đổ nghiêng bên phải, đầu chếch hướng lề đường bên trái, đuôi chếch hướng lề đường bên phải, trục bánh trước cách mép đường bên phải 5,15m, trục bánh sau cách mép đường bên phải 3,94m.

Vết trượt xước trên mặt đường (ký hiệu số 03), kích thước (0,84 x 0,01)m, đầu vết cách mép đường bên phải 2,94m, cuối vết là đầu để chân bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36B3-264.21 và cách mép đường bên phải 2,95m. Đầu vết trượt xước ký hiệu số 3 cách đầu vết trượt xước ký hiệu số 1 là 1,25m.

Xe mô tô biển kiểm soát 36B3-264.21 (ký hiệu số 4) đổ nghiêng bên phải, đầu xe chếch hướng lề đường bên trái, đuôi xe chếch hướng lề đường bên phải. Trục bánh trước xe cách lề đường bên phải 3,44m, trục bánh sau xe cách mép đường bên phải 2,53m. Trục bánh trước xe mô tô cách trục bánh sau xe đạp 0,66m. Kết thúc khám nghiệm hiện T, cơ quA điều tra có thu giữ xe mô tô và xe đạp.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 36B3- 264.21 (màu sơn xAh-đen- bạc):

Xe không có gương chiếu hậu bên phải. Đèn xi nhA trước bên phải bị tỳ nén nứt vỡ, mặt ngoài mài sát, kích thước (0,10 x 0,03)m, tâm cách đất 0,98m. Cánh yến bên phải bị tỳ nén, nứt vỡ, mặt ngoài để lại vết trà sát, mòn sơn, kích thước (0,41 x 0,14)m, tâm cách đất 0,60m. Mặt trên chắn bùn bánh trước để lại vết tì nén mài sát nứt vỡ nhựa, bám dính tạp chất màu đen, kích thước (0,10 x0,04)m. Đầu chân phAh bên phải bị tỳ nén mài sát mòn kim loại, kích thước (0,20 x0,01)m. Đầu để chân trước bên phải bị tỳ nén mài sát mòn kim loại, cao su, kích thước 0,03 x 0,02)m. Bên trái má lốp bánh trước có vết mài sát cao su, sạch bụi đất, kích thước (5,3 x0,6)cm.

- Kết quả khám nghiệm xe đạp (màu sơn xAh- đen- đỏ):

Khung xe bị bật khớp nối thành hai phần rời nhau. Càng xe bên trái phía sau bị tỳ nén cong vênh hướng từ trái sAg phải. Mặt ngoài càng xe để lại vết tỳ nén mài sát sạch bụi đất, mòn kim loại, kích thước (0,09 x 0,03)m, tâm cách đất 22cm, 09 nA hoa bánh sau bật khớp nối. Đầu dây phAh bật khớp nối. Đầu bàn đạp bên phải bị tỳ nén mài sát, mòn nhựa, kích thước (0,06 x 0,03)m. Đầu tay lái bên phải bị tỳ nén mài sát mòn nhựa, kích thước (0,03 x0,02)m. Bánh sau xe đạp hết hơi. Bên phải gác ba ga có vết mài sát kim loại, kích thước (0,025x0,05)m.

* Kết quả khám nghiệm tử thi nạn nhân Nguyễn DAh H:

Thái dương trái có diện sưng nề bầm tím, kích thước (6x4,5)cm. Mặt trước ngoài cổ tay phải có nhiều vết bầm tím da trên diện (4,5 x2)cm. Mặt sau khuỷu tay trái có vết xây sát da bầm tím, kích thước (5 x2)cm. Mặt trước gối phải và cẳng chân phải có nhiều vết xây sát da bầm tím trên diện (16 x7)cm. Xung quAh cổ chân phải có nhiều vết xây sát da bầm tím trên diện (16 x5) cm. Mặt trong 1/3 dưới cẳng chân trái có vết xây sát da bầm tím, kích thước (7 x1,5)cm. Giải phẫu vùng đầu qua diện bầm tím vùng thái dương trái thấy bầm tụ máu tổ chức dưới da cơ thái dương trái, thấy đường nứt vỡ xương hộp sọ vùng thái dương trái qua đó có nhiều máu không đông chảy ra, đường nứt vỡ dài 2cm.

Tại bản kết luận giám định số 794/KL- KTHS ngày 14 tháng 5 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công A tỉnh Bắc GiAg kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn DAh H: Chấn thương sọ não: vỡ xương hộp sọ vùng thái dương trái. Các tổn thương xây sát da bầm tím là do va đập với vật tày và vật tày có bề mặt không nhẵn tác động tạo nên. Diện xưng nề bầm tím vùng thái dương trái là do va đập với vật tày có lực rất mạnh tác động tạo nên làm nứt vỡ xương hộp sọ vùng thái dương trái.

Ngày 14/5/2021, Cơ quA Cảnh sát điều tra- Công A huyện Việt Yên đã trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự (PC09)- Công A tỉnh Bắc GiAg giám định cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên hai phương tiện. Xác định vị trí, chiều hướng va chạm trên mặt đường. Xác định tốc độ của hai phương tiện khi xảy ra tai nạn.

Tại bản kết luận giám định số 914/KL-KTHS ngày 31/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công A tỉnh Bắc GiAg kết luận:

“1. Dấu vết mài sát cao su tại bên trái lốp bánh trước xe mô tô 36B3- 261.21 được hình thành do va chạm với dấu vết mài sát sơn, kim loại dính chất màu đen bên trái khung xe (vị trí sát bàn đạp) của xe đạp tạo nên là phù hợp.

2. Dấu vết trượt xước ký hiệu số 1 được hình thành do quá trình sau khi va chạm, xe đạp đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên là phù hợp.

Dấu vết trượt xước ký hiệu số 3 được hình thành do quá trình sau khi va chạm xe mô tô 36B3-264.21 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên là phù hợp.

3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô 36B-3264.21 và xe đạp trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết trượt xước ký hiệu số 1, thuộc phần đường bên phải theo hướng Hiệp Hòa- QuAg Châu.

4. Chiều hướng va chạm: xe mô tô 36B3- 264.21 chuyển động thẳng va chạm với xe đạp chuyển động từ phía trước bên phải đến theo hướng chuyển động của xe mô tô 36B3-264.21.

5. Không đủ căn cứ để xác định tốc độ của hai phương tiện khi xảy ra tai nạn.”

Tại phiếu đo nồng độ cồn hồi 17 giờ 36 phút ngày 15/4/2021 của Công A huyện Việt Yên đối với T thể hiện: Trong hơi thở của T có nồng độ cồn 0,827Mg/l.

Ngày 02/6/2021, Cơ quA Cảnh sát điều tra- Công A huyện Việt Yên đã trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên xác định giá trị tài sản bị thiệt hại đối với xe mô tô và xe đạp.

Tại Bản kết giám định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận: Giá trị tài sản bị thiệt hại đối với xe mô tô là 1.780.000 đồng, đối với xe đạp là 50.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 12/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quA điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử:

Về hình phạt: Áp dụng a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lèng Văn T từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 03/12/2021.

Về vật chứng, án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T đã khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng đã nêu và nhận thức được việc làm của mình là sai xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra Công A huyện Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người ủy quyền của đại diện hợp pháp bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA; Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai đầy đủ nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quA, T diện vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội dAh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Lèng Văn T tại phiên tòa hôm nay, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA, người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết quả khám nghiệm hiện T, kết quả khám nghiệm phương tiện, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Bắc GiAg và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/4/2021, tại Km 1 + 970 nơi giao nhau giữa đường vành đai 4 với đường đi thôn Kẻ và thôn Đình Cả, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên thuộc địa phận thôn Kẻ, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, bị cáo Lèng Văn T có hành vi điều kH xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 36B3-264.21 không chấp hành hệ thống báo hiệu đượng bộ, không làm chủ tốc độ (vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 11 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ) nên để phần bên trái lốp bánh trước xe mô tô do mình điều kH va chạm với phần khung bên trái xe đạp do ông Nguyễn DAh H điều kH đi từ bên phải sAg bên trái đường theo hướng đi của T. Hậu quả ông H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện quân y 110 Bắc Ninh nhưng do thương tích nặng nên ông H đã chết vào ngày 16/4/2021. Khi điều kH xe mô tô gây tai nạn, bị cáo T không có giấy phép lái xe mô tô và trong hơi thở có nồng độ cồn 0,827Mg/l (vi phạm khoản 8, 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo T theo tội dAh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định của Nhà nước về A T giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ.

Xét mức độ lỗi trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này lỗi của bị cáo điều kH xe mô tô không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không làm chủ tốc độ vi phạm khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 11 và khoản 1 Điều 12 của Luật giao thông đường bộ. Khi điều kH xe mô tô gây tai nạn, bị cáo T không có giấy phép lái xe mô tô và trong hơi thở có nồng độ cồn 0,827Mg/l vi phạm khoản 8, 9 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã đưa bị hại đi cấp cứu, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình bị hại, được đại diện của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo T không có.

Với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ lỗi của bị cáo, hậu quả của hành vi của bị cáo gây ra cùng với tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo , Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải xử bị cáo hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo mới đảm bảo việc giáo dục riêng, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Tuy nhiên, đối với tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là do lỗi vô ý, bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật tố tụng hình sự mà không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 33.000.000 đồng, nay đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Giá trị tài sản bị thiệt hại đối với xe mô tô của Ah Lê Văn N, Ah N không yêu cầu bị cáo T bồi thường về việc xe mô tô bị hư hỏng. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 36B3-264.21, kết quả điều tra xác định là tài sản của Ah Lê Văn N, sinh năm 1992, trú quán: Xóm 2, xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh ThAh Hóa giao cho Ah T sử dụng để đi giám sát công trình xây dựng (Ah N là chủ đơn vị thi công nơi Ah T làm việc); chiếc xe đạp là tài sản của bị hại ông Nguyễn DAh H. Cơ quA điều tra-Công A huyện Việt Yên đã trả lại xe mô tô cho Ah N và xe đạp cho gia đình ông H. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về các vấn đề khác:

- Trong vụ tai nạn, người thAh niên tên là GiAg không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể và không bị thương tích nên Cơ quA điều tra không xem xét.

- Ah Vũ Văn T khi cho bị cáo T mượn xe mô tô, không biết bị cáo không có đủ điều kiện điều kH xe mô tô nên Cơ quA điều tra không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ bA thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lèng Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về

tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 03/12/2021.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ bA thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Lèng Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Cỡ chữ