- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST Ngày: 26 – 01 – 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đình Khôi
2. Ông Phạm Thanh Trà
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị N, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2001, tại Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1965; Con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1971; Anh chị em ruột có: 03 người, bị cáo là thứ hai. Cha mẹ và anh chị em ruột đều ở ấp T, xã B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; CH: Huỳnh Tấn T, sinh năm 1992 ở xã L, huyện Tân Phú (không đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Thị N bị áp dụng biện tạm giữ từ ngày 16/07/2021 đến ngày 24/7/2021 và áp bị dụng biện pháp tạm giam từ ngày 25/7/2021 đến nay đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện Tân Phú. (có mặt)
2. Huỳnh Văn P, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1993 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp D, xã B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1932; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1953; Anh chị em ruột có: 03 người, bị cáo là thứ hai. Cha mẹ và anh chị em ruột đều ở ấp D, xã B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Huỳnh Văn P bị áp dụng biện tạm giữ từ ngày 16/07/2021 đến ngày 24/7/2021 và áp bị dụng biện pháp tạm giam từ ngày 25/7/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện Tân Phú. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị U, sinh năm 1971 (vắng)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Tân Phú, Đồng Nai.
2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1953 (vắng)
Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện Tân Phú, Đồng Nai.
- Người làm chứng:
1. Ông Vũ Đình O, sinh năm 1986 (vắng)
Địa chỉ: Ấp Phú Thạch, xã Phú Trung, huyện Tân Phú, Đồng Nai.
2. Ông Trần Văn R, sinh năm 1999 (vắng)
Địa chỉ: Ấp Phú Hợp A, xã B, huyện Tân Phú, Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị N và Huỳnh Văn P là những người nghiện ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 15/7/2021 tại quán cà phê Zalo thuộc ấp D, xã B, huyện Tân Phú, Nguyễn Thị N và Huỳnh Văn P cùng nhau góp tiền để mua ma túy về sử dụng chung, Huỳnh Văn P có đưa cho Nguyễn Thị N số tiền 63.000 đồng, N có 87.000 đồng, do số tiền ít nên N mang chiếc điện thoại di động của mình đi cầm cố được số tiền 750.000 đồng. N đã liên lạc với một người tên là Ân ở xã Phú Lâm, huyện Tân Phú (không rõ lai lịch, địa chỉ) để mua ma túy với số tiền là 900.000đồng thì Ân đồng ý. Ân có nhờ một thanh niên đến quán cà phê Zalo giao cho N 02 gói ma túy được gói trong bọc nylong (01 gói lớn, 01 gói nhỏ), N mang ma túy mới mua được vào chòi số 02 của quán cà phê Zalo lấy ra một ít ma túy trong gói lớn và cùng Huỳnh Văn P, Vũ Đình O sử dụng chung, số ma túy còn lại thì N mang về nhà ở ấp T, xã B cất giấu. Đến 23 giờ 26 phút cùng ngày thì Vũ Đình O nhắn tin cho N hỏi mua ma túy giá 300.000 đồng, nhưng do không đủ tiền nên O nhắn tin lại cho N chỉ mua 200.000 đồng, N đồng ý và chia ma túy từ gói lớn ra 01 gói nhỏ khác rồi đi giao cho O tại đầu đường hẻm phía trước nhà N ở ấp T, xã B và lấy số tiền 200.000đ từ O.
Khoảng 14 giờ ngày 16/7/2021 Huỳnh Văn P gọi điện thoại cho Nguyễn Thị N nói còn ma túy thì mang ra chơi, nghe vậy N mang 02 gói ma túy còn lại mua ngày 15/7/2021 đến quán cà phê Zalo thì thấy có P và O đang ở chòi số 02. Lúc này N lấy 02 gói ma túy ra chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi phạm tội của N và P đã được công an điều tra xác minh làm rõ.
Tang vật thu giữ:
- 02 gói lylong màu trắng, hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- Số tiền 924.000 đồng;
- 02 điện thoại di động (01Samsung galaxy A32; 01 nokia màu đen);
- 01 xe mô tô biển số 60P1-6982.
Căn cứ bản kết luận giám định số 1515/KLGĐ-PC09 ngày 22/07/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 2,7248gam, loại: Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKSTP–ĐN ngày 22/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố các bị cáo:
- Huỳnh Văn P, Nguyễn Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị N. Trên cơ sở phân tích dấu hiệu phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
1. Về tội danh:
Các bị cáo Huỳnh Văn P, Nguyễn Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.
2. Về mức hình phạt:
- Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; Bị cáo Nguyễn Thị N từ 01(một) năm sáu tháng đến 02 (hai) năm tù.
- Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 02(hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Số tiền 924.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị N cơ quan điều tra đã xác định 200.000đồng là tiền bán ma túy cho Vũ Đình O và 724.000đồng là tiền mượn của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị U. Số tiền 724.000đồng Cơ quan điều tra đã trao trả cho bà U; số tiền 200.000đồng đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô biển số 60P1-6982; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32, Cơ quan điều tra đã xác định người quản lý hợp pháp là bà Nguyễn Thị U nên đã ra quyết định trao trả cho bà U.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Cơ quan điều tra đã xác định người quản lý hợp pháp là bà Trần Thị H nên đã ra quyết định trao trả cho bà H.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao bì niêm phong số 1515/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, bên trong có chứa ma túy đã qua giám định do không còn giá trị sự dụng.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Văn P, Nguyễn Thị N không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Thị N và bị cáo Huỳnh Văn P là những người nghiện ma túy. Vào lúc 23 giờ 26 phút ngày 15/07/2021 tại ấp T, xã B, huyện tân Phú, Nguyễn Thị N có hành vi 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Đình O được số tiền 200.000 đồng. Vào lúc 14 giờ 05 phút ngày 16/07/2021 tại quán cà phê Zalo thuộc ấp D, xã B, Nguyễn Thị N và Huỳnh Văn P bị bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khối lượng 2,7248gam, loại Methamphetamine nhẳm mục đích sử dụng dần.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố các bị cáo Nguyễn Thị N và Huỳnh Văn P theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Thị N theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo N có cha ruột là ông Nguyễn Văn Binh đã từng phục vụ trong quân đội và làm nhiệm vụ quốc tế tại Cam pu chia và được Nhà nước tặng Giấy khen số 51/KT vì có thành tích trong phong trào thi đua quyết thắng năm 1985, bản thân bị cáo N đang nuôi con nhỏ sinh năm 2019 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây nguy hại đối với sức khỏe và nhân cách của con người; làm thiệt hại kinh tế của gia đình cũng như xã hội và là một trong những nguyên nhân nảy sinh của các loại tội phạm khác, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Vì vậy, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Bị cáo Nguyễn Thị N và Huỳnh Văn P cùng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành nên mức hình phạt tương đương nhau.
. Về các biện pháp tư pháp:
- Số tiền 924.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị N cơ quan điều tra đã xác định 200.000đồng là tiền bán ma túy cho Vũ Đình O và 724.000đồng là tiền mượn của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị U. Cơ quan điều tra đã ra quyết định trao trả số tiền 724.000đồng cho bà U là phù hợp. Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000đồng vì đây là số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy.
- 01 xe mô tô biển số 60P1-6982; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32, Cơ quan điều tra đã xác định người quản lý hợp pháp là bà Nguyễn Thị U nên đã ra quyết định trao trả cho bà U là đúng quy định pháp luật.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Cơ quan điều tra đã xác định người quản lý hợp pháp là bà Trần Thị H nên đã ra quyết định trao trả cho bà H là đúng quy định pháp luật.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao bì niêm phong số 1515/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, bên trong có chứa ma túy đã qua giám định do không còn giá trị sử dụng.
. Về vấn đề khác:
- Nguyễn Thị N khai nhận mua ma túy của một người tên là Ân (không xác định được nhân thân, lai lịch), hiện Cơ quan điều tra đang tiến hành xác minh, làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 249; khoản 1, Điều 17; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 249; khoản 1, Điều 251; khoản 1, Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, Điều 55 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt:
- Bị cáo Huỳnh Văn P 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Bị cáo Nguyễn Thị N 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo Nguyễn Thị N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là 04 (bốn) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với các bị cáo được tính từ ngày 16/7/2021.
2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính 200.000đồng tại biên lai thu 0000013 ngày 236/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao bì niêm phong số 1515/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, bên trong có chứa ma túy đã qua giám định do không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú và Chi cục Thi Hình án dân sự huyện Tân Phú).
3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Huỳnh Văn P và bị cáo Nguyễn Thị N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú ; - Công an huyện Tân Phú ; - Chi cục THADS huyện Tân Phú ; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Phi |