- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Minh T - Bị truy tố, xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trƣơng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST Ngày: 19/4/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trương Thị Bích Hiệp.
2/ Ông Hoàng Văn Phan.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2022/TLST – HS ngày 05 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trƣơng Minh T, tên gọi khác: Không.
Sinh năm: 1984 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Trú tại: Xóm D, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Minh T (đã chết) và bà: Trương Thị H; Vợ: Lô Thị H, có 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 05 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 160/2010/HSPT ngày 22/12/2010; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2022 đến nay. (Có mặt)
- Người làm chứng: Chị Hoàng Thị H, sinh năm: 1976.
Trú tại: Xóm D, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 9 giờ 45 phút, ngày 10/01/2022 tại xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Q phối hợp với Công an xã T trong lúc tuần tra, làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang Trương Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói giấy chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy) cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc, có tổng khối lượng là 0,340 gam, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, đồng thời
1
thu giữ, niêm phong vật chứng liên quan. Quá trình điều tra Trương Minh T khai nhận, do nghiện chất ma túy nên vào sáng ngày 10/01/2022 T đến nhà của em trai là Trương Minh T1 mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiếm soát 37H1-299.03 nói dối đi công việc, sau khi mượn được xe T đi đến nhà của Hoàng Thị H là người cùng xóm, T hỏi mua với H 01 gói ma túy số tiền là 500.000 đồng với mục đích đem về để sử dụng, khi trên đường quay trở về nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 10/01/2022 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xác định:
“Mở gói niêm phong bên trong có:
+ 01 (một) gói bọc bằng giấy màu trắng bên trong chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy).
Sau khi loại bỏ mảnh giấy màu trắng số chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy) có khối lượng 0,340 gam (không phẩy ba trăm bốn mươi gam).
Để có cơ sở kết luận và theo yêu cầu của công tác điều tra, hội đồng đã lấy 0,125 gam (không phẩy một trăm hai mươi lăm gam) chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy)…để gửi giám định.
Các vật chứng còn lại gồm vỏ bao niêm phong; mảnh giấy gói màu trắng; 0,215 gam (không phẩy hai trăm mười lăm gam) chất bột nén màu trắng được niêm phong dán kín…”
Kết luận giám định số: 189/KL-PC09(Đ2-MT), ngày 17/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Trương Minh T gửi đến giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột nén màu trắng thu giữ của Trương Minh T có khối lượng là 0,340g (không phẩy ba trăm bốn mươi gam).”
Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSQH ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Trương Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Minh T từ 18 đến 24 tháng tù.
Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,215g (Không phẩy hai trăm mười lăm gam) ma túy (Heroine) còn lại sau khi đã đưa đi giám định cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong trong 01 phong bì thư và 01 (một) Test xét nghiệm chất ma túy đối với Trương Minh T.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến, tranh luận gì thêm. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người làm chứng Hoàng Thị H tại phiên tòa: Trong quá trình điều tra người làm chứng đã có lời khai đầy đủ, đã tham gia đối chất với bị cáo, quá trình điều tra không chứng minh được người làm chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên việc vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người làm chứng là đúng quy định.
Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản xét nghiệm chất ma túy; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định; Biên bản khám xét khẩn cấp và vật chứng thu giữ được; Bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo và người làm chứng, biên bản hỏi cung của bị cáo, biên bản đối chất tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Khoảng 9 giờ 45 phút, ngày 10/01/2022 tại xóm D, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Công an huyện Q phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang Trương Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (Heroine) cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc trên người, tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 0,340 gam (Không phẩy ba trăm bốn mươi gam), bị cáo khai nhận cất giấu ma túy với mục đích để sử dụng. Hành vi cất giấu ma túy với mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích khác đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và mức hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Vụ án xảy ra ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự và nhận thức
3
được tác hại của chất ma túy, nhưng vẫn cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai nhận bố đẻ là người có công, tuy nhiên trong giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa người thân trong gia đình và bản thân bị cáo xác nhận đã làm thất lạc giấy tờ, không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Theo lời khai của bị cáo Trương Minh T, gói ma túy thu giữ tại bị cáo có nguồn gốc bị cáo mua với Hoàng Thị H là người cùng xóm với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) mà có. Theo lời khai nhận của bị cáo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp đã ra lệnh và tiến hành thủ tục khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Hoàng Thị H nhưng không thu giữ được vật chứng gì liên quan đến việc mua bán ma túy theo như lời khai của bị cáo. Quá trình điều tra lấy lời khai và cho đối chất giữa hai bên, Hoàng Thị H không thừa nhận có sự việc bán ma túy cho bị cáo, ngoài lời khai nhận của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ hay người làm chứng chứng minh có sự việc bị cáo mua ma túy với Hoàng Thị H vào sáng ngày 10/01/2022, nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Anh Trương Minh T1 là người cho bị cáo mượn chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiếm soát 37H1-299.03, quá trình điều tra xác định được anh T1 hoàn toàn không biết việc bị cáo mượn xe của mình nhằm mục đích đi mua ma túy để sử dụng, cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh T1 là đúng quy định.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị xem xét áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là lao động tự do, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng để đảm bảo thi hành án, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số ma túy (Heroine) 0,215 gam (không phẩy hai trăm mười lăm gam) còn lại sau khi đưa đi giám định là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với vỏ, bao gói cùng phong bì niêm phong và 01 Test thử chất ma túy của bị cáo Trương Minh T là vật không có giá trị và giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trƣơng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
4
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Trương Minh T 21 (Hai mƣơi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 10/01/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì niêm phong, bên trong có vỏ bao niêm phong, bao gói và 0,215 gam (không phẩy hai trăm mười lăm gam) ma túy Heroine còn lại thu giữ của Trương Minh T và 01 (một) phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa que test thử chất ma túy của bị cáo Trương Minh T.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 04/4/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp).
3. Án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trương Minh T chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ hợp; - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ hợp; - THADS huyện Quỳ Hợp; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - NCQLNVLQ; - lưu HS, VP; 5 | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |