vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 16/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch phạm tội “Đánh bạc”;

1. Xử phạt bị cáo: Hà Ch 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2022). Phạt bổ sung bị cáo Hà Ch 10.000.000 (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Ch cùng đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC DƯƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày: 16 - 9 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Thủy

Bà Hồ Thị Tường Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hà Ch; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988; tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: T’ Rin; giới tính: nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Là Gh, sinh năm 1954 và bà Cà Thị Dr, sinh năm 1958; có vợ là Kră Jăn K’H, sinh năm 1984 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022, đến ngày 01/6/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

2. Họ và tên: Trương Thanh S; sinh ngày 30 tháng 7 năm 1981; tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: 61 C, phường 7, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương D, sinh năm 1950 và bà Trần Thị Ngh, sinh năm 1952; có vợ là Phạm Thị Sa L, sinh năm 1984 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022, đến ngày 01/6/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại 61 C, phường 7, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

3. Họ và tên: Hoàng Thành Ph; Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1972; tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: 12/31 Nh, phường 3, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng U (đã chết) và bà Trương Thị Y, sinh năm 1944; có vợ là Trương Thị Th, sinh năm 1974 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022, đến ngày 01/6/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại 12/31 N, phường 3, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

4. Họ và tên: Bùi Văn G; Sinh ngày: 02 tháng 9 năm 1984; tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn T, xã Th, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú hiện nay: thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Kh (đã chết) và bà Bùi Thị T (đã chết); có vợ là Bùi Thị O, sinh năm 1983 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 15/11/2008 Công an thành phố Đà Lạt xử phạt 80.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022, đến ngày 01/6/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

5. Họ và tên: Nguyễn Xuân C; Sinh ngày: 08 tháng 10 năm 1976; tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: thôn 4, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Đ (đã chết) và bà Chế Thị T, sinh năm 1957; có vợ là Phạm Thị Mai H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022, đến ngày 01/6/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại thôn 4, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

6. Họ và tên: Dương Thanh Ph; Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1974; tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: A 12/1 T, phường 10, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Thanh V, sinh năm 1943 và bà Lê Thị Ng (đã chết); có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1978 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022, đến ngày 01/6/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại A 12/1 T, phường 10, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

7. Họ và tên: Đặng Cu B; Sinh ngày: 01 tháng 8 năm 1977; tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng M (đã chết) và bà Võ Thị Ch; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022, đến ngày 01/6/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Ông Bùi H; Nơi cư trú: thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 26/5/2022, tại nhà của ông Bùi H ở thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, sau khi ăn, uống dịp lễ mừng đường mới cùng những người khác, Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch cùng rủ nhau qua gian kho đóng bông tại nhà ông H chơi đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài “xì lát”. Các bị cáo lấy 03 bộ bài tú lơ khơ có sẵn tại đây để chơi đánh bài, cách thức chơi cụ thể như sau: Mỗi người sẽ làm “nhà cái” 03 ván, sau đó sẽ chuyển “nhà cái” cho người khác. Những người chơi sẽ đặt cược số tiền từ 100.000 đ (một trăm nghìn đồng) đến 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) với “nhà cái” và có thể cược riêng với nhau tùy ý. Cách thức chơi bài “xì lát” như sau: mỗi người được “nhà cái” chia 02 lá bài, số lá bài còn lại dùng để “bốc”, mỗi người sẽ lần lượt “bốc” bài theo vòng, tối thiểu mỗi người phải có 02 lá bài (trường hợp không “bốc”), tối đa mỗi người có thể có 05 lá bài. Cách tính điểm phân định thắng, thua theo thứ tự như sau: “Xì bàn” được tính là cao nhất, là trường hợp những người chơi có 02 lá bài Át (lá bài A) sẽ coi là thắng tuyệt đối và nhận được số tiền cược đã đặt cược; “Xì lát” được tính sau “Xì bàn”, là trường hợp người chơi có 02 lá bài gồm 01 lá bài Át (A) và một trong những lá bài 10, J, Q, K, trường hợp này người chơi cũng sẽ thắng nếu người khác không có bài “Xì lát” hoặc Xì bàn”; “Ngũ linh” là trường hợp người chơi có 05 lá bài bất kỳ không vượt quá 21 điểm (các lá bài 10, J, Q, K được tính chung là 10 điểm, lá bài A có thể tính 01, 10 hoặc 11 điểm); trường hợp còn lại sẽ so số điểm để tính thắng thua, số điểm cao nhất là 21, thấp nhất là 16 điểm, riêng “nhà cái” có thể 15 điểm đối với 02 lá bài; “Quắc” là trường hợp người chơi có só điểm vượt quá 21 điểm sẽ tính là thua, trừ trường hợp người chơi khác cũng “quắc”. Đến 18 giờ, 45 phút, khi Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch đang chơi bài “Xì lát” thắng thua bằng tiền thì bị Công an bắt quả tang.

Biên bản bắt quả tang ngày 26/5/2022 tại nhà ông Bùi H đã thu giữ 20.400.000 (hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng) và 03 bộ (156 lá) bài tú lơ khơ trên chiếu bạc, thu giữ trong người các bị cáo 8.200.000 đ (tám triệu hai trăm nghìn đồng) và 06 điện thoại di động.

Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKSLD ngày 12/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như đã khai báo ở Cơ quan điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng truy tố và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay như nội dung vụ án được tóm tắt ở trên; các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng, và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng số 10/CT- VKSLD ngày 12/8/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65; khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Hà Ch, Trương Thanh S từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; các bị cáo Nguyễn Xuân C, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; bị cáo Đặng Cu B từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Vật chứng của vụ án: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 20.400.000 (hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bộ bài tú lơ khơ. Trả cho bị cáo Trương Thanh S 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; bị cáo Dương Thanh Ph 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy S8 Active màu xanh dương đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 200.000 đồng; bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy S8 Active màu đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; bị cáo Bùi Văn G 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, mặt sau có dán hình màu vàng đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng); bị cáo Hoàng Thanh Ph 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh dương đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 200.000 (hai trăm ngàn đồng); bị cáo Đặng Cu B 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, bàn phím màu đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; Bị cáo Hà Ch 2.800.000 (hai triệu tám trăm ngàn đồng). Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo đều có ý kiến về việc đã nhận thấy việc làm của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo trình bày khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 26/5/2022, tại nhà của ông Bùi H ở thôn 6, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, sau khi ăn, uống dịp lễ mừng đường mới cùng những người khác, Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch đã sử dụng 03 bộ bài tú lơ khơ để cùng nhau chơi đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài “xì lát”. Đến 18 giờ 45 phút, khi các bị cáo đang chơi đánh bài thắng thua bằng tiền thì bị Công an bắt quả tang; Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc có trên chiếu bạc là 20.400.000 (hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng). Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đối với ông Bùi H có sử dụng nhà thuộc quyền sở hữu để cho các bị cáo đánh bạc tuy nhiên ông Hoàng không biết việc các bị cáo đánh bạc, không tham gia đánh bạc và không trục lợi từ việc đánh bạc, do vậy Cơ quan điều tra không khởi tố ông H mà ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do vậy cũng cần áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về quyết định hình phạt: Xét hành vi của các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc vào ngày 26/5/2022 có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn, không có người khởi xướng mà cùng rủ nhau đánh bạc. Hành vi của các bị cáo đã làm ảnh hưởng đến việc xây dựng nếp sống văn hóa, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm thực hiện; vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo trong vụ án cụ thể: Đối với hành vi của bị cáo Hà Ch là người sử dụng số tiền 8.000.000 (tám triệu đồng) tham gia đánh bạc cùng các bị cáo khác do vậy bị cáo phải chịu mức án cao hơn các bị cáo khác; các bị cáo Trương Thanh S, Hoàng Thanh Ph, Dương Thanh Ph, Nguyễn Xuân C sử dụng số tiền từ 2.700.000 (hai triệu bảy trăm ngàn đồng) đến 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn đồng), bị cáo Bùi Văn G 1.200.000 (một triệu hai trăm ngàn đồng) để tham gia đánh bạc, trong đó bị cáo G còn là người có nhân thân xấu ngày 15/11/2008 Công an thành phố Đà Lạt xử phạt 80.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng do vậy các bị cáo phải chịu mức án cao hơn bị cáo B và thấp hơn bị cáo Ch; đối với bị cáo Đặng Cu B sử dụng từ 800.000 (tám trăm ngàn đồng) đánh bạc do vậy bị cáo có mức án thấp nhất so với các bị cáo khác trong cùng vụ án. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là người có nhân thân tốt có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; đồng thời các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; đối với bị cáo G mặc dù là người có nhân thân xấu tuy nhiên theo quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự bị cáo cũng đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch mỗi bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 20.400.000 (hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bộ bài tú lơ khơ, các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc. Trả cho bị cáo Trương Thanh S 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; bị cáo Dương Thanh Ph 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy S8 Active màu xanh dương đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 200.000 đồng; bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy S8 Active màu đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; bị cáo Bùi Văn G 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, mặt sau có dán hình màu vàng đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng); bị cáo Hoàng Thanh Ph 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh dương đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 200.000 (hai trăm ngàn đồng); bị cáo Đặng Cu B 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, bàn phím màu đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; Bị cáo Hà Ch 2.800.000 (hai triệu tám trăm ngàn đồng).

. Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch phạm tội “Đánh bạc”;

2. Căn cứ vào Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65; khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2.1. Xử phạt bị cáo: Hà Ch 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Hà Ch 10.000.000 (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2.2. Xử phạt bị cáo: Trương Thanh S 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Trương Thanh S 10.000.000 (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2.3. Xử phạt bị cáo: Hoàng Thành Ph 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Thành Ph 10.000.000 (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2.4. Xử phạt bị cáo: Bùi Văn G 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn G 10.000.000 (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2.5. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Xuân C 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Xuân C 10.000.000 (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2.6. Xử phạt bị cáo: Dương Thanh Ph 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Dương Thanh Ph 10.000.000 (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2.7. Xử phạt bị cáo: Đặng Cu B 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2022).

Phạt bổ sung bị cáo Đặng Cu B 10.000.000 (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Giao các bị cáo C, B, G, Ch cho Uỷ ban nhân dân xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng; bị cáo S cho Uỷ ban nhân dân phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; bị cáo Ph cho Uỷ ban nhân dân phường 10, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; bị cáo Ph cho Uỷ ban nhân dân phường 3, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, vắng mặt tại nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. (Đã giải thích chế định án treo).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 20.400.000 (hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bộ bài tú lơ khơ.

Trả cho bị cáo Trương Thanh S 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; bị cáo Dương Thanh Ph 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy S8 Active màu xanh dương đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 200.000 đồng; bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy S8 Active màu đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; bị cáo Bùi Văn G 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, mặt sau có dán hình màu vàng đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng); bị cáo Hoàng Thanh Ph 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh dương đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng và số tiền 200.000 (hai trăm ngàn đồng); bị cáo Đặng Cu B 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, bàn phím màu đen đã sử dụng, không kiểm tra chất lượng; Bị cáo Hà Ch 2.800.000 (hai triệu tám trăm ngàn đồng). (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2022).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân C, Trương Thanh S, Đặng Cu B, Bùi Văn G, Hoàng Thành Ph, Dương Thanh Ph, Hà Ch mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ