vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 31/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/12/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM ĐỘNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HƯNG YÊN
Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày: 31/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Thắng và bà Nguyễn Thị Nga.

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: Ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 31/3/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2022/TLST- HS ngày 15/3/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 18/3/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1992 tại Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn PC, xã P, huyện KĐ, tỉnh HY; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T và bà Đào Thị L; Vợ: Vũ Thị T; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018. Tiền sự, tiền án: không.

Nhân thân: Ngày 30/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Động xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo bị tạm giữ ngày từ ngày 18/12/2021, chuyển tạm giam từ ngày 24/12/2021. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Ông Lưu Văn H, sinh năm 1972; trú tại: Thôn Cốc Khê, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

+ Ông Ngô Đình Th, sinh năm 1972; trú tại: Thôn Phú Cốc, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

(Người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 15 phút ngày 18/12/2021 tại thôn Phú Cốc, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Công an huyện Kim Động phát hiện Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1992 ở thôn Phú Cốc, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H tự nuốt gói nilon nghi chứa ma túy vào bụng. Tổ công tác đã đưa H xuống Bệnh viện đa khoa Hưng Hà kiểm tra và lấy từ dạ dầy của H 02 gói nilon trong đó 01 gói nilon màu trắng có nắp viền cài màu xanh bên trong chứa chất màu hồng dạng viên nén (Ký hiệu A1), 01 gói nilon màu trắng nắp viền cài màu đỏ bên trong chứa chất kết tinh màu hồng nhạt (Ký hiệu A2).

Quá trình điều tra H khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 18/12/2021, H một mình đi bộ đến khu vực đường bê tông thuộc địa phận thôn Phú Cốc, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên gặp một nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. H thấy người này giống người nghiện ma túy nên hỏi mua 200.000 đồng ma túy của người này với mục đích để sử dụng, người này đồng ý và đưa cho H 02 túi nilon trong đó 01 gói nilon có nắp viền cài màu xanh, 01 gói nilon nắp viền cài màu đỏ đều chứa ma túy. H cất 02 gói nilon chứa ma túy trên vào trong miệng rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng nhưng khi đang trên đường đi thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kim Động tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Ngọc H nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận giám định số 35/MT-PC09 ngày 22/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: mẫu chất màu đỏ trong niêm phong ký hiệu A1 có khối lượng là 0,091 gam, là ma túy Methamphetamine; mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu A2 có khối lượng là 0,087 gam, là ma túy Methamphetamine.

Bị cáo Nguyễn Ngọc H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho H ngày 18/12/2021, do H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của đối tượng trên. Do đó không có căn cứ để xác minh làm rõ.

* Về vật chứng:

Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kim động đang quản lý vật chứng và các đồ vật, tài sản liên quan trong vụ án: 01 phong bì hoàn mẫu vật gửi giám định được niêm phong dán kín có số ký hiệu 35/MT-PC09.

Cáo trạng số 15/CT-VKSKĐ ngày 14/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Nguyễn Ngọc H về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động trình bày luận tội giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị HĐXX: Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 18/12/2021 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện Kim Động và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng...; Bản kết luận giám định số 35/MT – PC09 ngày 22/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên đối với mẫu chất thu giữ của Quý;...Như vậy, HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 09 giờ 15 phút ngày 18/12/2021 tại thôn Phú Cốc, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Ngọc H tàng trữ trái phép 0,178 gam ma túy, loại Methamphetamin, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của nhà nước đối với các chất ma túy và chất gây nghiện. Tội phạm ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy nên ý thức rõ tác hại của ma túy đối với thể lực và trí lực của con người nhưng vì nhu cầu của bản thân nên vẫn bất chấp các quy định của pháp luật, thực hiện việc phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần pH xét xử nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Về nhân thân: Bị cáo H là đối tượng nghiện chất ma túy. Do đó không được coi là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Nguyễn Ngọc H không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với bị cáo, HĐXX xét thấy cần thiết pH cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số 35/MT – PC 09 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hưng Yên là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho H, do H khai không biết tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Động không có căn cứ để xác minh, xử lý là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo H pH chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/12/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định ghi số 35/MT – PC09.

(Tình trạng, đặc điểm chi tiết vật chứng nêu trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 17/3/2022 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Động).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc H pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ