- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ph và đồng bọn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST Ngày 10-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khuyến
Ông Hoàng Tú Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Huy Hiệp- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2022/TLST-HS ngày 06/05/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 31/5/2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Văn Ph, sinh năm: 1986, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn A, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngũ Th (đã chết) và bà Mai Thị X; vợ: không (đã ly hôn), con: có 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37 ngày 22/06/2016 của Công an phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định số 16/QĐ-TA ngày 07/09/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 10/7/2019. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2021 đến ngày 25/11/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay.
2. Họ và tên: Nguyễn Trường X, sinh năm: 1987, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn 6, xã Tr, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 20/QĐ ngày 18/11/2020 của Công an xã Gia Trấn, huyện Gia Viễn xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa chấp hành; Quyết định số 275A ngày 01/11/2020 của Uỷ ban nhân dân xã Gia Trấn, huyện Gia Viễn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, chấp hành xong ngày 02/12/2021; nhân thân: Bản án số 11/2012/HSST ngày 20/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, án phí phải nộp là 200.000 đồng, chấp hành xong án phí ngày 5/6/2012, hình phạt tù ngày 06/2/2013; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28 ngày 29/12/2018 của Đồn Công an Khu công nghiệp Gián Khẩu, huyện Gia Viễn xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2021 đến ngày 25/11/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.
3. Họ và tên: Lê Đức M, sinh năm: 1970, tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn Y, xã Tr, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); có vợ là Đặng Thị Th và 02 con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2001); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2021 đến ngày 25/11/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.
4. Họ và tên: Bùi Văn A, sinh năm: 1991, tại tỉnh Ninh Bình; nơi ĐKNKTT: thôn P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V và bà Lê Thị T; có vợ là Hoàng Thị L và 03 con (con lớn nhất: đã chết, nhỏ sinh năm 2018); tiền án: Bản án số 20/2020/HSST ngày 01/07/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư xử phạt 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, án phí phải nộp 200.000 đồng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2021, án phí ngày 10/8/2020; tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 14/2015/HSST ngày 25/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư xử phạt 24 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phí, tiền phạt ngày 11/8/2015. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2021 đến ngày 25/11/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Hoàng Ngọc Tr. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 20/11/2021 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Đức M sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Pro màu xám lắp sim số 0702011872 gọi đến số 0398555355 của Nguyễn Trường X rủ đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau đó, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave α, biển kiểm soát 35B2 - 812.54 đến nhà X rồi đưa xe mô tô cho X chở M đi vào khu vực đường 11 thuộc thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy. Trên đường đi, X vào một cửa hàng thuốc ven đường mua 01 bơm kim tiêm loại 3ml và 01 lọ nước cất NOVOCAIN 3%. Khi đến chỗ bãi đất trống trên trục đường vào khu du lịch T thì X dừng xe, M đưa cho X 500.000 đồng để X đi mua ma túy còn M đứng đợi. Tại đây, X nhắn tin đến số điện thoại 0969954788 của Phạm Văn Ph hỏi mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Sau đó, X đi xe môtô vào hướng Tuyệt Tịnh Cốc khoảng 200m thì gặp bạn là Bùi Văn A. A hỏi và biết được X đang đi mua ma túy thì A xin góp tiền mua cùng. A đưa cho X 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. X bảo A đứng đợi còn X tiếp tục đi đến gặp Ph để mua ma túy. Trên đường đi X nhắn tin đến cho Ph hỏi mua 01 gói ma túy giá 500.000 đồng; 01 gói ma túi giá 200.000 đồng và hẹn chỗ gặp. Phạm Văn Ph sau khi nhận được tin nhắn của X đã hẹn X đợi 30 phút và điều khiển xe môtô Dream, biển kiểm soát 35H1-8251 đến khu vực thị trấn M, huyện Gi, tỉnh Ninh Bình tìm gặp người đàn ông tên L (không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể) mua được 01 gói ma túy với giá 700.000 đồng, chưa trả tiền cho L. Trên đường trở lại chỗ hẹn với X, Ph đã lấy một ít ma túy trong gói vừa mua để sử dụng, số còn lại chia thành 03 gói nhỏ (Ph chuẩn bị giấy gói từ trước). Ph bọc 02 gói ma túy để bán cho X bằng 01 mảnh nilon màu đen còn 01 gói Ph cất giấu trong người để có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Sau đó, Ph đi đến chỗ hẹn với X lấy 700.000 đồng (trong đó của M 500.000 đồng, X 100.000 đồng, A 100.000 đồng) từ X và đưa cho X 01 gói được bọc bên ngoài bằng mảnh nilon màu đen. Sau khi bán ma túy cho X thì Ph tìm gặp L để trả tiền mua ma túy còn X cầm gói ma túy quay lại chỗ A, cùng A đi đến chỗ M đang đứng đợi. Đến nơi, X xé lớp nilon màu đen làm hai mảnh rồi lấy 01 gói có kích thước to hơn đưa cho M, bảo M cất đi để cùng sử dụng. Gói còn lại, X bỏ vào trong túi áo khoác bên trái. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi cả ba đang đứng tại bãi đất trống thuộc trục đường thôn Đ, xã N, huyện H để chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Hoa Lư phát hiện yêu cầu kiểm tra. X đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng; M tự giác giao nộp 01 gói nhỏ gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và niêm phong 02 gói ma túy theo quy định của pháp luật.
Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở, Ph tự giác giao nộp 01 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng có in chữ màu đen, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và khai nhận đây là số ma túy còn lại sau khi bán cho X.
Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ các tài sản, đồ vật gồm: thu tại chân Nguyễn Trường X 02 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng kích thước (đây là mảnh nilon bọc bên ngoài 02 gói ma túy thu giữ của X và của M); thu giữ của X: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel màu đỏ đen có số IMEI I 355634049425363; IMEI 2 357620048926368; 01 bơm kim tiêm loại 3ml; 01 lọ nước cất NOVOCAIN 3% chưa sử dụng; thu giữ của M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Pro màu xám, số IMEI 1: 35480293592831; IMEI 2: 354803093592839; thu giữ của M 01 xe máy nhãn hiệu Honda BLADE, biển kiểm soát: 35B2 - 812.54; thu giữ của A 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 35F9 - 9237; thu giữ của Ph: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11, màu xanh dương; IMEI 1 869150050749855; IMEI 2 868150050749848; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu tím, biển kiểm soát 35H1 - 8251.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong các gói nhỏ đã thu giữ và gửi đi trưng cầu giám định tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình. Tại bản kết luận giám định số 868/KLGĐ - PC09 - MT ngày 25/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M3 (thu giữ của Nguyễn Trường ) có khối lượng 0,1394gam, ký hiệu M4 (thu giữ của Lê Đức M) có khối lượng 0,2063gam, ký hiệu M5 (thu giữ của Phạm Văn Ph) có khối lượng 0,1355gam. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M3, M4, M5 đều là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc bảng danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ
Số ma túy cơ quan giám định hoàn lại còn lại trong mẫu giám định M3 có khối lượng 0,0893 gam; ký hiệu M4 có khối lượng 0,1334 gam; ký hiệu M5 có khối lượng 0,0862 gam cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong các phong bì thư theo quy định của pháp luật; 01 bơm kim tiêm loại 3ml; 01 lọ nước cất NOVOCAIN 3% chưa sử dụng; 02 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng kích thước và vỏ bao gói, niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel màu đỏ đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Pro màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11, màu xanh dương; 01 xe môtô nhãn hiệu Dreame, màu tím, biển kiểm soát 35H1-2851 thu giữ mang tên Phạm Văn Ph được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoa Lư quản lý.
Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave α, biển kiểm soát 35B2 - 812.54, màu đỏ đen thu giữ của Lê Đức M, quá trình điều tra đã xác định là của chị Đặng Thị Th là vợ của Lê Đức M, chị Th không biết việc M sử dụng xe để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã trả lại chiếc xe trên cho chị Th, chị Th đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 35F9 - 9237 thu giữ của Bùi Văn A, quá trình điều tra đã xác định là của bà Lê Thị T là mẹ đẻ của Bùi Văn A cho A mượn. Bà T không biết việc A sử dụng xe máy để đi góp tiền mua ma túy với Nguyễn Trường X. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã trả lại chiếc xe trên cho bà T, bà T đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSHL ngày 04/5/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố Phạm Văn Ph về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1, 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS); truy tố các bị cáo Nguyễn Trường X, Lê Đức M, Bùi Văn A về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng: khoản 1, 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS xử phạt Phạm Văn Ph từ 24 đến 30 tháng tù, phạt tiền bổ sung từ 10 đến 15 triệu đồng; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Trường X từ 21 đến 24 tháng tù và xử phạt bị cáo Lê Đức M từ 18 đến 21 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS xử phạt Bùi Văn A từ 21 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) tịch thu tiêu hủy số heroin còn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong và 01 bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất; tịch thu xung quỹ nhà nước 03 điện thoại và 01 xe máy thu giữ của các bị cáo; truy thu 700.000 đồng của bị cáo Ph.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi nêu trên, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Các bị cáo đã thành niên, nhận thức rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Hồi 10 giờ 15 phút, ngày 20/11/2021, tại trục đường 11 thuộc thôn D, xa N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Trường X, Lê Đức M, Bùi Văn A đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân (trong đó X tàng trữ 0,3457 gam, M tàng trữ 0,2063 gam, A tàng trữ 0,1394 gam) bị phát hiện bắt quả tang. Trước đó, cùng ngày 20/11/2021, Phạm Văn Ph đã có hành vi bán trái phép 02 gói ma túy cho Nguyễn Trường X với số tiền 700.000 đồng và cất giấu 0,1355 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Phạm Văn Ph đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1, 5 Điều 251 của BLHS. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trường X, Lê Đức M, Bùi Văn A đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo là đúng pháp luật.
Điều 249 của BLHS quy định như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
Điều 251 của BLHS quy định như sau:
"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Về tính chất, mức độ, vai trò hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; có nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến phát sinh nhiều loại tội phạm khác.
Các bị cáo Nguyễn Trường X, Lê Đức M, Bùi Văn A là đồng phạm ở mức độ giản đơn. Trong đó, Lê Đức M là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn Trường X, đóng góp số tiền nhiều nhất vào việc mua ma tuý. Bị cáo Nguyễn Trường X góp tiền cùng M và A, trực tiếp liên lạc và đi mua ma tuý là người thực hành tích cực nhất. Bị cáo Bùi Văn A góp tiền với bị cáo X để mua ma tuý về sử dụng nên có vai trò thấp nhất trong vụ án.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Phạm Văn Ph:
Về nhân thân: Trước đây, bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị cáo đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, cần xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; tự giác giao nộp ma tuý khi bị yêu cầu kiểm tra nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
- Đối với bị cáo Nguyễn Trường X:
Về nhân thân: Trước đây, bị cáo đã 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, cần xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Hiện bị cáo còn 02 tiền sự chưa được xóa
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; tự giác giao nộp ma tuý khi bị yêu cầu kiểm tra nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
- Đối với bị cáo Lê Đức M:
Từ trước đến nay, bị cáo chưa vi phạm pháp luật, có nhân thân tốt.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; tự giác giao nộp ma tuý khi bị yêu cầu kiểm tra nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
- Đối với bị cáo Bùi Văn A:
Về nhân thân: Trước đây, bị cáo đã một lần bị xử lý vi phạm hành chính, đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, cần xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có một tiền án chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, HĐXX xét thấy để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng. Bị cáo Phạm Văn Ph thực hiện hành vi bị pháp luật nghiêm cấm với mục đích kiếm lời để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên không cần thiết áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Văn Ph.
Biện pháp tư pháp: Số ma tuý hoàn lại sau giám định cùng vỏ bao gói ban đầu, niêm phong và 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ. 03 chiếc điện thoại, thu giữ của các bị cáo X, M, Ph, 01 chiếc xe máy thu giữ của bị cáo Phong là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 02 xe máy thu của bị cáo A và bị cáo M, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định. Số tiền 700.000 đồng của bị cáo Phong do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo Ph phải nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vấn đề khác: Bị cáo Ph khai không biết rõ, cụ thể về người bán ma tuý tên Lợi nên không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
Các bị cáo Nguyễn Trường X, Lê Đức M, Bùi Văn A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Ph 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (20/11/2021).
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường X 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (20/11/2021).
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức M 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (20/11/2021).
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn A 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (20/11/2021).
2. Biện pháp tư pháp:
Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước (3,7 x 4,4) cm, vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì thư niêm phong bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng kích thước (5,5 x 5,5) cm, 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước (4,5 x 4,5) cm và 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 bơm kim tiêm loại 3ml thu của Nguyễn Trường X; 01 lọ nước cất loại NOVOCAIN 3% thu giữ của Nguyễn Trường X; 02 mảnh nilon không rõ hình dạng, kích thước; 01 phong bì thư niêm phong bên trong có số heroine hoàn lại sau giám định trong mẫu giám định ký hiệu M3 có khối lượng 0,0893 gam, ký hiệu M4 có khối lượng 0,1334 gam; 01 phong bì thư niêm phong bên trong có số heroine hoàn lại sau giám định trong mẫu giám định ký hiệu M5 có khối lượng 0,0862 gam cùng vỏ, bao gói niêm phong; tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel thu của Nguyễn Trường X, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J20 P10 thu của Lê Đức M, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme C11 thu của Phạm Văn Ph, 01 xe mô tô Honda Dream, biển kiểm soát 35H1- 2851 thu giữ của Phạm Văn Ph (những đồ vật này hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/05/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư); buộc Phạm Văn Ph phải nộp lại số tiền 700.000 đ (bảy trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Hoa Lư; - CA huyện Hoa Lư; - THADS huyện Hoa Lư; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Thị Kim Oanh |