vanban.org

Bản án 13/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng: khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Tâm - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-PT
Ngày: 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Lịnh

Bà Nguyễn Thành Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nghĩa Biên – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2021/TLPT-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Chí T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2021/HS-ST ngày 28/09/2022 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Chí T, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1992; Nơi sinh An Minh, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp KQ A1, xã VKT, huyện AM, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn S và bà Tạ Thị Q; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Phạm Quang Tr không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 22/01/2021, Phạm Quang T1 điều khiển xe mô tô trên đường đi làm từ ấp TL về hướng ấp RG, xã ĐH A, huyện AM, tỉnh Kiên Giang. Khi đi ngang nhà anh Phạm Hoàng Th thuộc ấp HL, xã ĐH A, huyện A M, tỉnh Kiên Giang, T1 nhìn thấy trước nhà có úp 02 con gà trống trong bội, nên nảy sinh ý định bắt trộm. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter biển số 68M1- 267.06 chở theo em ruột là Phạm Quang H, sinh ngày 06/4/2007, đi từ nhà mẹ ruột là bà Trần Kim L thuộc ấp HL, xã ĐH A, huyện AM, tỉnh Kiên Giang về nhà mình. Khi đến đoạn đường trước nhà anh Th thì T1 dừng xe lại bước xuống và kêu H ở ngoài đợi, T1 đi vào trước cửa nhà anh Th quan sát không thấy ai nên bắt trộm 02 con gà trống đem ra đưa cho H giữ, rồi tiếp tục quay lại đột nhập vào nhà anh Th, T1 nhìn qua của sổ thì thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki C110, màu đỏ - trắng, biển số 59S1 - 202.77 của anh Th có gắn sẵn chìa khóa nên kéo cửa sắt bên hông nhà đi vào. Khi vào trong nhà T1 mở cửa tủ lạnh lấy một hộp nhựa đựng mực và cá chả để trên võng xe, rồi dắt chiếc xe của anh Th ra ngoài lộ. T1 đạp khởi động chiếc xe nhưng không nổ máy nên T1 kêu H sang ngồi cầm lái chiếc xe vừa lấy trộm để T1 điều khiển chiếc xe Exciter đẩy về. Khi cả hai đẩy xe vào kênh Nông Trường Dừa được khoảng 300m thì dừng lại, T1 tiếp tục đạp khởi động chiếc xe Suzuki thì nổ máy nên điều khiển về nhà cất giấu. Sau đó, T1 gọi điện thoại cho Nguyễn Chí T nói là vừa mua được chiếc xe và 02 con gà trống đá của người khác lấy trộm bán lại với giá 5.000.000 đồng và kêu T đến nhà T1 lấy xe về tìm chỗ bán nếu có lời thì sẽ chia tiền cho T, thì T đồng ý. Khoảng 21 giờ ngày 22/01/2021, T đến nhà T1, cả hai tổ chức uống bia và bàn tính chuyện bán xe, sau đó T ngủ lại nhà T1. Đến sáng ngày 23/01/2021, T1 lấy chìa khóa tháo biển số chiếc xe Suzuki bỏ vào trong cốp xe rồi đưa cho T điều khiển về nhà T tại ấp KQ A1, xã VKT, huyện AM, tỉnh Kiên Giang cất giấu và tìm người để bán. Khi về đến nhà, T gọi điện thoại cho Tạ Mẫn X (X là anh vợ của T1) để nhờ tìm người bán xe, sau đó X tìm được người mua xe và cho T số điện thoại, T liên lạc với người mua xe (chưa rõ lai lịch nhân thân) qua điện thoại và thỏa thuận bán chiếc xe với giá 12.000.000 đồng, rồi hẹn gặp nhau tại Cổng chào huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 11 giờ ngày 25/01/2021, T gọi điện thoại kêu T1 cùng đi đến huyện Tân Hiệp để bán xe, trong lúc T đang đợi T1 ở Thứ 10 (lộ Xuyên Á), thuộc xã Đông Hưng, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang thì bị Cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Quang T1 và Nguyễn Chí T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận về việc định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 17/02/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Minh, kết luận:

- 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, số loại C110, màu đỏ, số máy E114-M1855555, số khung BF12C-TH104927, biển số đăng ký 59S1-202.77, xe mua năm 2019, giá trị còn lại 19.330.000 đồng.

- 01 (Một) cái hộp nhựa màu trắng, kích thước chiều dài 20cm, chiều rộng 13cm, chiều cao 07cm, khóa nắp nhựa màu xanh, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 20.000 đồng.

- 01 (Một) Con gà trống, loại gà nòi, lông màu đỏ đen có giá 252.000 đồng.

- 01 (Một) Con gà trống, loại gà nòi, lông màu trắng có giá 252.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản cần định giá là 19.854.000 đồng.

Đối với số mực và cá chả T1 lấy trộm đựng trong hộp nhựa hiện tại không còn nên không có cơ sở để định giá; 01 con gà trống lông màu trắng T1 đem đi đá bắt xác bị thua nên không còn, bị hại là anh Th cũng không có yêu cầu nhận lại.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Minh đã tạm giữ:

+ Tạm giữ của Nguyễn Chí T: 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, số

loại C110, màu đỏ, số máy E114-M1855555, số khung BF12C-TH104927,

biển số đăng ký 59S1-202.77.

+ Phạm Quang T1 giao nộp: 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển số 68M1 - 267.06, màu đen xám, số khung 0610JY628557, số máy G3D4E654782, đã qua sử dụng; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe số: 018712, loại xe Exciter, biển số 68M1 - 267.06, màu đen xám, tên chủ xe Phạm Quang T1, sinh năm 2000, địa chỉ ấp Thuồng Luồng, xã Đông Hưng A, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; (Một) cái hộp nhựa màu trắng, kích thước chiều dài 20cm, chiều rộng 13cm, chiều cao 07 cm, khóa nắp bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng; (Một) con gà trống, loại gà nòi, lông màu đỏ đen, cân nặng 2,1kg; 01 (Một) cây chìa khóa bằng kim loại, một đầu 10 và một đầu 12.

+ Anh Phạm Hoàng Th giao nộp: 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 038010, ghi tên chủ xe: Trần Văn Tn; địa chỉ: 332 Nguyễn Hữu C, P22, Q.B/Thạnh; nhãn hiệu: Suzuki; số loại: C110; màu sơn: đỏ; biển số đăng ký: 59S1-202.77, cấp ngày 16/9/2012.

Tại Bản án sơ thẩm số: 46/2021/HSST ngày 28/9/2021 Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Phạm Quang T1 06 tháng tù về biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 11/10/2021, bị cáo Nguyễn Chí T có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo với lý do: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, ăn năng về hành vi của mình.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về tội danh của bị cáo là phù hợp. Về hình phạt, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 03 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Chí T kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và nói lời nói sau cùng xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về quyết định của bản án sơ thẩm:

Sau khi lấy trộm được tài sản, Phạm Quang T1 nhờ Nguyễn Chí T tìm nơi tiêu thụ. T biết rõ chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý tìm người để bán chiếc xe. Đến ngày 25/01/2021, khi các bị cáo trên đường mang tài sản trộm cắp đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt giữ. Giá trị tài sản là chiếc xe mà Phạm Quang T1 lấy trộm theo kết luận định giá là 19.330.000 đồng. Do vậy Tòa án nhân dân huyện An Minh đã xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo xin được hưở ng án treo , HĐXX thấy rằng án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt mức án 03 tháng tù là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 46/2021/HSST ngày 28/9/2021 Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ