vanban.org

Bản án 13/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 14/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ý L phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-PT
Ngày: 14-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thu

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Bà Đỗ Thị Thắm

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 139/2021/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Trần Ý L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2021/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện VC.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Ý L, sinh ngày 20/10/1983. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn HV 2, xã CV, huyện VC, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Văn T, sinh năm 1955 và bà Hồ Thị Kim L, sinh năm: 1956; Vợ, con: Không; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân bị can: Ngày 29/7/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong vào ngày 26/4/2013. Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/4/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án này còn có 03 bị cáo khác không có kháng cáo hoặc đã rút kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 29/3/2021, Dương Thành T gọi điện thoại rủ Trần Ý L đánh bài ăn thua bằng tiền và được L đồng ý. T đã đi mua 10 bộ bài tây, loại 52 lá, chuẩn bị 01 tấm mền, đĩa sứ và ly uống nước có sẵn tại nhà dùng để đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 77Y3 - 7234 đến nhà T. Do không có tiền Linh đã hỏi mượn tiền của T để đánh bạc nhưng T không cho nên L thế chấp xe mô tô cho T lấy 3.000.000 đồng rồi đánh bạc với Thơm tại phòng khách nhà Thơm. Sau đó, Trần Trọng T và Phạm Quí Th lần lượt đến nhà T và bỏ số tiền “tẩy” đánh bạc với Thơm và Linh. Tại đây, Th, L, T và Th sử dụng bộ bài tây, loại 52 lá nhưng quy ước chỉ lấy từ lá bài số 9 đến lá bài A, đánh bạc với hình thức “xì tố”, mỗi người tham gia đánh bạc phải bỏ “tẩy” 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, ai thua hết số tiền đã bỏ tẩy nếu tiếp tục chơi thì phải bỏ tiền tẩy mới. Cách thức đánh: mỗi người được chia 02 lá bài, trong đó lá bài đầu tiên lật ngửa, lá bài thứ hai úp lại, ai có lá bài lật ngửa lớn hơn thì được quyền đặt tiền cược (gọi là tiền “mậu”) để bốc lá bài đi trước, ai có bài ngửa nhỏ mà không tiếp tục chơi thì bỏ bài qua ván. Mức đặt tiền cược là 10.000 đồng đối với hai lần bốc lá bài đầu tiên và từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng đối với lần bốc lá bài thứ ba. Khi lật hết năm lá bài, bài ai lớn hơn thì thắng và ăn hết số tiền đặt cược trên chiếu bạc của ván đó. Ngoài ra, người thắng số tiền từ 150.000 đồng trở lên thì phải chịu tiền “xâu” 10.000 đồng và tự bỏ vào cái ly đặt tại chiếu bạc. Số tiền “xâu” này là do Thơm thu về để mua mì tôm, nước uống, thuốc hút và bài cho những người chơi, nếu còn dư thì Thơm có quyền lấy sử dụng cá nhân. Lúc đánh bạc tại nhà Thơm có đông người đến xem, trong đó có Lê Văn Đ, Trần Quốc A, Đoàn Cảnh N, Lê Minh Ch. Sau đó, Đ, A, N và Ch rủ nhau đánh bạc và có hỏi Thchỗ ngồi thì được T đồng ý, chỉ xuống phòng bếp, đồng thời lấy mền, đĩa, ly và một bộ bài Tây đưa cho cả nhóm. Đ, A, Nh, Ch đánh bạc cũng với hình thức “xì tố” như trên. Trước khi đánh bạc, Đ, A, Nh và Ch mỗi người bỏ tẩy số tiền 1.000.000 đồng đầu tiên. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Trần Ý L thua hết 2.800.000 đồng đi về nhà trước, Ch cũng thua hết 1.400.000 đồng nên dừng chơi. Lúc này Th, T và Th tiếp tục đánh bạc tại phòng khách, còn Đ, A và Nh tiếp tục đánh bạc tại phòng bếp. Tại nhà Th, ngoài vợ của Th là bà Nguyễn Thị Tr còn có những người đến xem là Trần T, Nguyễn Trần Anh Th, Phạm Minh T. Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày thì Công an ập đến lập biên bản bắt quả tang đối với Th, A, Đ; thu giữ trên chiếu bạc tại phòng khách số tiền 9.820.000 đồng, tại phòng bếp số tiền 460.000 đồng, các phương tiện, tang vật khác. Riêng T, Th, Ch chạy thoát được ra ngoài. Vào các ngày 30/3/2021, 31/3/2021, 01/4/2021, 02/4/2021, Trần Ý L, Lê Minh Ch, Đoàn Cảnh Nh, Trần Trọng T và Phạm Quí Th lần lượt đến Cơ quan điều tra và thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình.

Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2021/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện VC đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Dương Thành Th phạm tội "Đánh bạc" và “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Trần Ý L, Phạm Quí Th và Trần Trọng T đều phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ý L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt các bị cáo khác từ 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đến 21 tháng tù, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

- Ngày 06 tháng 10 năm 2021, bị cáo Dương Thành Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 04.11.2021 bị cáo Dương Thành Th có đơn rút kháng cáo. Ngày 09.11.2021 TAND tỉnh Bình Định ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Dương Thành Th.

- Ngày 04 tháng 10 năm 2021, bị cáo Trần Ý L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ý L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Trần Ý L thừa nhận hành vi phạm tội, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định vụ án như sau:

Vào ngày 29/3/2021, Dương Thành Th đã có hành vi rủ rê nhiều đối tượng đến đánh bạc tại nhà mình thuộc thôn TL, xã CV, huyện VC, tỉnh Bình Định, trong đó các bị cáo Trần Ý L, Trần Trọng T và Phạm Quí Th đánh bạc bằng hình thức bài tẩy với Dương Thành Th. Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày thì Trần Ý L thua hết 2.800.000đ và ra về, đến 22 giờ 20 phút thì lực lượng công an bắt quả tang các bị cáo Th, Th và T đang đánh bạc và thu giữ tại chiếu bạc số tiền 9.820.000đ, sau đó Trần Ý L ra đầu thú. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Ý L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận.

[2.1] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Ý L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Ý L là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng là phù hợp, đúng quy định của Bộ luật Hình sự và đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Trần Ý L.

[2.2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên.

[3] Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV. Bị cáo Trần Ý L phải chịu 200.000đ án phí HSPT.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ý L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Ý L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí HSPT: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV. Bị cáo Trần Ý L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSPT.

3. Các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ