- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M. Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Triệu Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ ___________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 7 năm 2022 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Việt Giang.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Thu Hương.
2. Bà Ma Thị Trang Nhung.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2022, về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1989. (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh P.
Bị đơn: Anh Triệu Văn G, sinh năm 1984. (Vắng mặt không lý do)
Địa chỉ: Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, biên bản lời khai và các biên bản hòa giải tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh Triệu Văn G có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 21/10/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh P. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình bố mẹ đẻ anh G tại khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh P. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh G mải chơi, không đi làm, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Do mâu thuẫn trầm trọng nên từ khoảng năm 2017 đến tháng 02/2022 chị và anh G mặc dù sống cùng nhà nhưng ăn, ngủ và sinh hoạt riêng, không quan tâm đến nhau. Từ khoảng tháng 02/2022 đến nay chị M chuyển ra ngoài ở riêng. Nay chị M xác định không còn tình cảm với anh G nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh G.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị M xác định vợ chồng có 02 con chung là: cháu Triệu Gia L, sinh ngày 25/4/2012 và cháu Triệu Ngọc Diễm M, sinh ngày 16/12/2013. Hiện nay các con chung đang ở cùng anh G. Ly hôn, chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 01 cháu (được nuôi cháu nào thì chị M cũng nhất trí), chị không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Chị M hiện đang làm tại Công ty TNHH ESTEC Phú Thọ, địa chỉ tại: Khu công nghiệp Tử Đà, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung; Về công nợ chung; Về công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị M xác định không có tài sản chung, không có công nợ chung và không có đóng góp công sức gì nên đều không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, các biên bản hòa giải tại Tòa án bị đơn anh Triệu Văn G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh G và chị Nguyễn Thị M tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 21/10/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh P. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sinh sống cùng gia đình bố mẹ đẻ anh G ở Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh P. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhỏ, đến khoảng đầu năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Thời gian gần đây thì chị M đã chuyển ra ngoài thuê nhà ở. Nay chị M xin ly hôn, anh G mong muốn vợ chồng đoàn tụ, anh không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh Triệu Văn G xác định vợ chồng có 02 con chung là: cháu Triệu Gia L, sinh ngày 25/4/2012 và cháu Triệu Ngọc Diễm M, sinh ngày 16/12/2013. Hiện nay các con chung đang ở cùng anh G. Ly hôn, quan điểm của anh G đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu, anh không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Anh G hiện nay đang làm tự do tại địa phương, thu nhập khoảng từ 10.000.000đ - 12.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung; Về công nợ chung; Về công sức đóng góp: Anh Triệu Văn G xác định không có tài sản chung, không có công nợ chung và không có đóng góp công sức gì nên đều không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M. Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Triệu Văn G.
Về con chung:
Giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Triệu Ngọc Diễm M, sinh ngày 16/12/2013 đến khi cháu M thành niên.
Giao cho anh Triệu Văn G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Triệu Gia L, sinh ngày 25/4/2012 đến khi cháu L thành niên.
Chị M và anh G không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai vì M và anh G đều không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị M và anh Triệu Văn G đều xác định không có tài sản chung, không có công nợ chung và không có đóng góp công sức gì nên đều không yêu cầu tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trên cơ sở xem xét ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, chị Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc xin ly hôn với anh Triệu Văn G, nơi cư trú: Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh P. Do vậy, xác định đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Triệu Văn G đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị M và anh G là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M kết hôn với anh Triệu Văn G có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Lâm Thao, tỉnh P ngày 21/10/2011. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận. Chị M và anh G cũng đều thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Chị M đã chuyển ra ngoài sinh sống từ khoảng tháng 02/2022 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn. Anh G mong muốn vợ chồng đoàn tụ, anh không nhất trí ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh trưởng khu hành chính nơi chị M và anh G sinh sống thì được trưởng khu hành chính cho biết anh G và chị M không báo cáo nên địa phương không nắm được. Hội đồng xét xử xét thấy trong cuộc sống vợ chồng giữa chị M và anh G có sảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân 1 thời gian, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, anh G mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng từ khi chị M chuyển ra ngoài sinh sống anh G không có động thái gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tình trạng hôn nhân của chị M và anh G đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M đối với anh G là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Triệu Văn G đều xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Triệu Gia L, sinh ngày 25/4/2012 và cháu Triệu Ngọc Diễm M, sinh ngày 16/12/2013. Hiện nay các cháu đang ở cùng anh G. Khi ly hôn chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 01 cháu. Chị M hiện đang làm tại Công ty TNHH ESTEC Phú Thọ thu nhập bình quân khoảng 10.000.000đ/tháng. Anh G cũng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu. Anh G hiện nay đang làm tự do tại địa phương, thu nhập khoảng 10.000.000đ - 12.000.000đ/tháng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ thị trấn L có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Hội đồng xét xử xét thấy chị M và anh G đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu nhưng cháu Triệu Ngọc Diễm M là con gái nên cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Vì vậy để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt, sự phát triển của các cháu nên cần giao cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Triệu Ngọc Diễm M, giao cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Triệu Gia L là phù hợp. Chị M và anh G không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai vì chị M và anh G đều không yêu cầu.
Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị M và anh Triệu Văn G đều xác định không có tài sản chung, không có công nợ chung và không có đóng góp công sức gì nên đều không yêu cầu tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao là phù hợp với pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M. Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Triệu Văn G.
[2]. Về con chung:
Giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Triệu Ngọc Diễm M, sinh ngày 16/12/2013 đến khi cháu M thành niên.
Giao cho anh Triệu Văn G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Triệu Gia L, sinh ngày 25/4/2012 đến khi cháu L thành niên.
Chị M và anh G không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai vì chị M và anh G đều không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3]. Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị M và anh Triệu Văn G đều xác định không có tài sản chung, không có công nợ chung và không có đóng góp công sức gì nên đều không yêu cầu tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí (theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2020/0002091 ngày 25/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ).
[5]. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Lâm Thao; - Công an huyện Lâm Thao; - Cơ quan THADS huyện Lâm Thao; - UBND thị trấn L; - Lưu HS+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Việt Giang |