vanban.org

Bản án 13/2022/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 26/05/2022 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Hồng P.

Sửa một phần bản án hôn nhân sơ thẩm số 37/2022/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang về phần án phí. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận việc chị Lê Thị Hồng P và anh Nguyễn Kim P thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị P Xin Ly hôn với anh P"
  • Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Hồng P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 26-5-2022
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Thủy.

Các Thẩm phán: + Ông Huỳnh Văn Ngoan

+ Bà Nguyễn Thị Ánh Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Hữu Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2022/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2021/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 81/2022/QĐ-PT ngày 04 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng P, sinh năm 1993 (có mặt).

Trú tại: ấp T, xã B, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

-Bị đơn: Anh Nguyễn Kim P, sinh năm 1977 (có mặt).

Trú tại: ấp H, xã Đ, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn – chị Lê Thị Hồng P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo án sơ thẩm:

-Nguyên đơn - chị Lê Thị Hồng P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Kim P kết hôn do tự tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào ngày 13/7/2015. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, cự cãi do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, ít gần gũi quan tâm nhau và đã sống ly thân từ tháng 7/2020 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn anh P.

Về con chung: Chị và anh P có 01 con chung tên Nguyễn Gia P, sinh ngày 09/12/2016 hiện đang sống cùng anh P. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Bị đơn là anh Nguyễn Kim P trình bày:

Về hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của chị P. Nay vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia P, sinh ngày 09/12/2016, hiện đang sống cùng anh. Khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chị P cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bản án Hôn nhân sơ thẩm số 37/2021/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã xử:

-Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận chị Lê Thị Hồng P và anh Nguyễn Kim P thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày 09/12/2016 cho anh Nguyễn Kim P được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lê Thị Hồng P không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu.

Chị Lê Thị Hồng P được đến thăm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

* Ngày 28/01/2022, chị Lê Thị Hồng P có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết buộc anh P giao cháu Nguyễn Gia P cho chị P nuôi dưỡng với lý do anh P chăm sóc, nuôi dạy con không tốt và ngăn cản chị thăm con.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Chị Lê Thị Hồng P trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xử cho anh P được trực tiếp nuôi con chung là không phù hợp pháp luật, vì ngoài Cháu P thì anh P còn phải nuôi một người con riêng tên Nguyễn Minh Đ. Mặc dù cháu Đăng đã trên 18 tuổi, hiện vẫn đang học đại học và sống lệ thuộc anh P. Trong khi chị P có nhà ở, có việc làm ổn định, đủ điều kiện để nuôi dạy và chăm sóc con chung tốt hơn anh P. Mặt khác, anh P thường xuyên ngăn cản việc thăm con của chị P. Vì vậy, chị P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giao cháu Nguyễn Gia P cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

- Anh Nguyễn Kim P trình bày: Cháu P từ khi sinh ra đã sống chung với cha mẹ và bà nội. Khi vợ chồng có mâu thuẫn, chị P tự ý đem con về nhà mẹ ruột sinh sống. Ngày 25/4/2021, anh có đến gặp chị P, xin rước con về nhà bà nội chơi, sau đó do tình hình dịch bệnh phức tạp nên anh không giao Cháu P cho chị P chăm sóc và không để chị P đưa Cháu P về vì sợ dịch bệnh chứ không ngăn cản chị P thăm con. Cháu P hiện nay đang sống với anh, được đi học mẫu giáo và được chăm sóc tốt, phát triển bình thường cả về sức khỏe và tinh thần. Vì vậy, anh không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của chị P. Đề nghị hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Về tố tụng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử phúc thẩm tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Hồng P, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giao con cho chị P nuôi dưỡng, đồng thời sửa phần án phí, buộc chị P và anh P mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm do cả hai thuận tình ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Xin ly hôn”, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

. Về nội dung kháng cáo, xét thấy: Chị P, anh P trình bày thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Gia P, sinh ngày 09/12/2016 hiện đang sống cùng anh P. Khi ly hôn, chị P, anh P đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện Cháu P đã được sinh ra, lớn lên cùng nhà với anh P; theo nội dung “Biên bản xác minh” của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo ngày 09/6/2021, ông Q, Phó trưởng ấp H, xã Đ, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã cung cấp thông tin : “anh Nguyễn Kim P có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc tốt cháu Nguyễn Gia P”. Thực tế anh P làm việc tại thành phố Mỹ Tho, có thu nhập cao hơn chị P, nơi làm việc gần nhà nên mỗi trưa đều về để chăm sóc Cháu P; chị P chưa có nhà riêng, làm công nhân tại khu công nghiệp Tân Hương, có thu nhập thấp hơn anh P, nơi làm việc xa nhà, lại thường xuyên tăng ca, nên điều kiện gần gũi, chăm sóc Cháu P có phần hạn chế hơn. Mặt khác, tại “Biên bản hòa giải” ngày 26/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, ý chí ban đầu chị P cũng đồng ý giao Cháu P cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến. Từ những nhận định nêu trên, để ổn định về mặt tâm lý của trẻ chưa thành niên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử giao cháu Nguyễn Gia P cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng, chị P không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu. Chị P kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới. Do đó, hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị P.

. Về án phí: Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị P và anh P nhưng buộc chị P phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là chưa phù hợp pháp luật. Vì vậy, hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí, buộc chị P và anh P mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Do sửa án sơ thẩm nên chị P không phải chịu án phí phúc thẩm.

. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có một phần phù hợp với nhận định nêu trên nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Hồng P.

Sửa một phần bản án hôn nhân sơ thẩm số 37/2022/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang về phần án phí.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận việc chị Lê Thị Hồng P và anh Nguyễn Kim P thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày 09/12/2016 cho anh Nguyễn Kim P trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Lê Thị Hồng P không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P chưa yêu cầu.

Chị Lê Thị Hồng P được đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

2/. Án phí:

Chị Lê Thị Hồng P và anh Nguyễn Kim P mỗi người phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị P đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004829 ngày 22/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên chị P được hoàn lại 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai trên.

3/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ