- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Khem M, chị Thị Kol Th đối với bị đơn Danh D.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/DS-ST Ngày: 17 – 03 – 2022 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Chắc
2. Bà Lê Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Ma ̣ch Văn Hiểu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2022, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 115/2020/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Chị Thị Khem M, sinh năm: 1982.
Cư trú: ấp 7, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang
2. Chị Thị Kol Th, sinh năm: 1984.
Cư trú: ấp 7, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang
Người đại diê ̣n theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trương Thanh V, sinh năm: 1984 (có mặt).
Cư trú: Số 37 Ngô Quốc Tr, phườ ng 5, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Ông Danh D, sinh năm: 1975 (có mă ̣t).
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Hồng A, sinh năm: 1983 (vắng mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
2. Bà Lâm Thị Kiều N, sinh năm: 1985 (vắng mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
- Người làm chứng:
1. Bà Thị H, sinh năm: 1976 (có mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 4, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
2. Bà Thị Thu H, sinh năm: 1967 (có mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
3. Bà Thị L, sinh năm: 1954 (vắng mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
4. Bà Thị C, sinh năm: 1948 (vắng mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
5. Ông Danh Nh, sinh năm: 1935 (vắng mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
6. Ông Huỳnh Văn Ch, sinh năm: 1938 (vắng mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
7. Ông Danh Đ, sinh năm: 1939 (vắng mă ̣t)
Cư trú tại: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ của nguyên đơn tức ông Danh Kh và bà Thị Th để lại. Năm 1995, ông Danh Kh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, phần đất có diện tích 9,609m2, tại thửa 707, tờ bản đồ số 07. Đất tọa lạc tại ấp 10, xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Năm 2014 ông Danh Kh chết, bà Thị Th thừ a kế toàn bô ̣ diê ̣n tích đất tại thử a 706 và 707, được Ủy ban nhân dân huyê ̣n Long Mỹ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01283 và CH01284 cùng ngày 01/7/2015. Đến tháng 4/2020 ông Danh D vào bao chiếm phần đất và đốn một số cây tạp nên phát sinh tranh chấp. Sự việc được chính quyền địa phương hòa giải nhưng không thành. Tháng 7/2020 bà Thị Th chết nên chị Thị Khem M và Thị Kol Th là người thừa kế phần đất trên. Nhưng ông Danh Del bao chiếm phần đất nên chị Thị Khem M và Thị Kol Th không làm thủ tục thừa kế phần đất được. Nhận thấy, phần đất là của bà Thị Th ổn định sử dụng và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc ông Danh D bao chiếm phần đất là ảnh hưởng đến quyền lợi của chị Thị Khem M và Thị Kol Th nên nay chị Thị Khem M và Thị Kol Th làm đơn khởi kiện.
Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Danh D trả lại cho chị Thị Khem M và Thị Kol Th toàn bộ phần đất đã bao chiếm theo đo đạc thực tế là 578,1m2, loại CLN, tại một phần thửa 3172, tờ bản đồ số 07. Đất tọa lạc tại ấp 10, xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn Danh D trình bày:
Nguồn gốc phần đất này là của ông Danh B cho mẹ ông Danh D là bà Thị H. Khi bà Thị H chết (không rõ năm nào) thì có để lại phần đất cho ông. Việc tặng cho phần đất giữa ông Danh B cho bà Thị H và từ bà Thị H cho ông Danh D chỉ thực hiện bằng miệng, không có giấy tờ hay văn bản gì. Thời điểm cho đất thì bà Thị H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất do ông Danh B đứng tên. Sau đó ông Danh Kh (cậu 2 của ông Danh D) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Danh D không hay biết. Khi ông Danh Kh làm thủ chuyển nhượng đất của ông Kh cho một vài hộ ở địa phương thì ông mới biết là ông Kh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dất. Nhưng do ông Danh Kh không có chuyển nhượng phần đất của ông Danh D nên ông cũng không quan tâm.
Năm 2015, bà Thị Th được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Danh D cũng không hay biết. Sau khi được tặng cho phần đất thì gia đình ông Danh D đã sử dụng phần đất trên từ rất lâu. Chỉ sử dụng trồng một số cây ăn trái, không có xây dựng công trình gì trên đất. Bà Thị H có trồng trên đất 09 cây dừa, hiện tại chỉ còn lại 07 cây, do khi bà Thị Th chuyển nhượng phần dất chô ông Hồng A thì đốn đi 02 cây. Do ông Danh D đi làm ăn xa nên bà Thị Th có chuyển nhượng cho ông Hồng A một phần đất của ông có diện tích đo đạc thực tế là 227,4m2 thì ông không biết.
Nay với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông Danh D không đồng ý. Vì phần đất này là của ông ngoại ông (ông Danh B) tặng cho mẹ ông (bà Thị H) và mẹ ông tặng cho lại cho ông. Nhưng ông Danh D không có yêu cầu phản tố trong vụ kiện này. Đối với 02 cây dừa mà ông Hồng A đã đốn thì ông cũng không có yêu cầu gì. Đối với phần đất đa chuyển nhượ̃
ng cho ông Hồng A là 227.4m2 khi nào tranh chấp ông Danh D sẽ khởi kiện sau.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hồng A trình bày: Năm 2014 anh Nguyễn Hồng A có nhận chuyển nhượng của bà Thị Th mô ̣t phần đấ t diê ̣n tich 415,1m2, loại đất trồng cây lâu năm và 145,5m2, loại đất ở nông thôn với
́ số tiền là 150.000.000 đồng. Ngoài ra vào năm 2018 anh Nguyễn Hồng A có nhận chuyển nhượng thêm của bà Thị Th mô ̣t phần đất diê ̣n tich 2907,1m2, loại đất
́ trồng cây lâu năm vớ i số tiền là 150.000.000 đồng. Các phần đất trên ông Nguyễn Hồng A đa được Ủ y ban nhân dân huyê ̣n Long My cấp giấy chưng nhâ ̣n quyền sử
̃
̃
́ dụng đất gồm các thửa 2900, 2899 cấp ngày 12/11/2015 và thửa 3171 cấp ngày 18/02/2020, ông yêu cầu được ổn đi ̣nh sử du ̣ng.
Nay ông không có yêu cầu gi trong vu ̣ kiê ̣n này.
̀
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lâm Thi ̣ Kiều N trình bày:
Bà Nương thống nhất theo lời trình bày của ông Nguyễn Hồng A và không trình bày gì thêm.
Người làm chứ ng Thị H trình bày: Bà Hồng là em ruột của ông Danh D . Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông ngoa ̣i là ông Danh B cho me ̣ bà là Thi ̣ H. Sau khi bà Thi ̣ H chết không để la ̣i di chúc . Bà H không biết bà Thi ̣ H được cho đất vào thờ i gian nào và cũng không biết rõ diê ̣n tich là bao nhiêu . Khi được
́ cho đất thi bà Thi ̣ H có về cất chòi để ở và trồng 09 cây dừ a trên đất. Khoảng năm
̀ 1998 thì bà Thị H bê ̣nh chết, khoảng năm 2001 cha của bà là ông Danh Ch chết. Khi ông Danh Ch chết thi không còn ai ở trên phần đất này nữa , chỉ còn hái dừa
̀ và thỉnh thoảng có về dọn cỏ.
Người làm chứ ng Thị Thu H trình bày: Bà H là chị ruột của ông Danh D . Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông ngoa ̣i là ông Danh B cho me ̣ bà là Thi ̣ H. Sau khi bà Thi ̣ H chết không để la ̣i di chúc . Bà H không biết bà Thi ̣ H được cho đất vào thờ i gian nào và cũng không biết rõ diê ̣n tich là bao nhiêu . Khi được
́ cho đất thi bà Thi ̣ H có về cất chòi để ở và trồng 09 cây dừ a trên đất. Khoảng năm
̀ 1998 thì bà Thị H bê ̣nh chết, khoảng năm 2001 cha của bà là ông Danh Ch chết. Khi ông Danh Ch chết thi không còn ai ở trên phần đất này nữa , chỉ còn hái dừa
̀ và thỉnh thoảng có về dọn cỏ.
Người làm chứ ng Thị L trình bày: Bà L là thím dâu của ông Danh D . Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Danh B cho bà Thi ̣ H. Bà H có cất chòi để ở, khi bà Thi ̣ H chết thi không còn ai ở trên phần đất này . Bà L không biết bà
̀ Thị H được cho đất vào thờ i gian nào và cũng không biết
rõ diện tích là bao nhiêu.
Người làm chứ ng Thị C trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Danh B cho bà Thi ̣ H. Bà H có cất chòi để ở, khi bà Thi ̣ H chết thi không còn
̀ ai ở trên phần đất này . Bà C không biết bà Thi ̣ H được cho đất vào thờ i gian nào và cũng không biết rõ diện tích là bao nhiêu.
Người làm chứ ng Danh Nh trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Danh B cho bà Thi ̣ H . Bà H có cất chò i để ở ,ngoài ra ông Danh Nh không biết gi khác.
̀
Người làm chứ ng Huỳnh Văn Ch trình bày: Ông là anh bà con vớ i ông Danh Kh. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Danh B cho bà Thi ̣ H vào năm 1977. Đến năm 1978 thì bà Thị H cất nhà và trồng dừ a . Đến năm 1996 khi đào kênh Long My 2 thì bà Thị H dỡ
̀ i nhà về kênh Long My 2. Năm 1975, ông̃ Danh Kh về ở trên phần đất của ông Danh B gần nhà vớ i bà Thi ̣ H . Khi bà Thi ̣ H dờ i nhà đi thi ông Danh Kh lấy la ̣i toàn bô ̣ phần đất của ông Danh B . Năm 1979,
̀ ông Danh B chết không có để la ̣i di chúc phần đất này cho ai. Đến năm 1989, khi có chính sách trả về đất gốc thì ông Danh Kh được hưở ng hết . Nguyên nhân ông Ch biết rõ là do trướ c đây ông có công tác thanh niên ở ấp , sau đó là nông hô ̣i rồi đến thu kho tập đoàn nên ông Ch biết rõ. Kể từ năm 1996 đến nay thì gia đình bà Thị H không còn ai sử du ̣ng phần đất trên . Khi được cho đất thi bà Thi ̣ H có cất
̀ nhà ở, khi bà Thi ̣ H dờ i về kinh Long My 2 thì đã tháo dỡ căn nhà.̃
Người làm chứ ng Danh Đ trình bày: Năm 1975 ông Danh B có cho bà Thị H mô ̣t miếng biền 02 chổ ở , mô ̣t chổ că ̣p nhà và một chổ sát mé lộ. Không ở được cho nên ở sát nhà ông Danh B . Trướ c đây ông Danh Kh đi tu , đến năm 1972 không đi tu nữa mà đi linh . Đến năm 1975 trở về ta ̣i nhà ông Danh B , khi ông
́ Danh B chết, ông Danh kh lấy la ̣i hết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mă ̣t; do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị Khem M, Thị Kol Th đối vớ i bi ̣ đơn Danh D . Buộc bị đơn Danh D trả cho nguyên đơn Thị Khem M, Thị Kol Th phần đất diện tích 578,1m2, tại mô ̣t phần thửa 3172, tọa lạc tại ấp 10, xã Lương Nghia, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.̃
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử sơ thẩm nhâ ̣n đi ̣nh như sau:
. Về quan hê ̣ tranh chấp : Phần đất tranh chấp giữa các bên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các đương sự phát sinh tranh chấp về việc xác định ai là người được quyền sử dụng đất nên xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
. Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng : Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt . Căn cứ Điều 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ngườ i có quyền lợi và nghia vu ̣̃
liên quan và người làm chứng nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Phần đất tranh chấp theo như đo đa ̣c thực tế có diê ̣n tich
578,1m2, nằm trong giấy
́
chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số CH 01284 cấp ngày 01/7/2015 do bà Thị Th đứng tên trên giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ của nguyên đơn tức ông Danh Kh và bà Thị Th để lại. Năm 1997, ông Danh Kh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, phần đất có diện tích 9,609m2, tại thửa 707 (3172), tờ bản đồ số 07. Đất tọa lạc tại ấp 10, xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Năm 2014 ông Danh Kh chết, bà Thị Thời thừ a kế toàn bô ̣ diê ̣n tích đất tại thử a 706 và 707, được Ủy ban nhân dân huyê ̣n Long Mỹ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01283 và CH01284 cùng ngày 01/7/2015.
Bị đơn cho rằng phần đất tr anh chấp là do ông Danh B (ông ngoa ̣i Danh Del) cho me ̣ ông là bà Thi ̣ H và sau đó bà Thị H cho la ̣i ông , nhưng chỉ nói miê ̣ng, không có giấy tờ gi. Ngoài ra, bị đơn nại ra nhiều lý do như việc cấp giấy
̀ chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Danh Kh thì bị đơn không hay biết. Tuy nhiên, qua trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyề n sử du ̣ng đất cho ông Danh Kh, thể hiện phần đất đang tranh chấp là của ông Danh Khiêl đã làm từ trước năm 1996, sau đó ông Danh Kh có đi đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997. Từ khi được cấp giấy ông Danh Kh luôn canh tác và sử dụng không ai tranh chấp. Hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn cho rằng phần đất này là của bị đơn nhưng bị đơn không có yêu cầu phản tố về việc công nhận phần đất này cho mình sử dụng. Đồng thời ông Danh Khiêl có quá trình sử dụng tính đến thời điểm tranh chấp là gần 30 năm nhưng bị đơn không trình báo với chính quyền địa phương để giải quyết mà đợi ông Danh Kh và bà Thị Th chết mới phát sinh tranh chấp. Trong quá trinh giải
̀ quyết vu ̣ á n cũng như ta ̣i phiên tòa hôm nay bi ̣ đơn không cung cấp được chứ ng cứ gi chứ ng minh phần đất trên là của bi ̣ đơn. Mă ̣c khác, bị đơn cũng thừa nhận từ
̀ khi được cho đất đến nay thi bi ̣ đơn không có quá trinh quản lý cũng như canh tác
̀
̀ đất. Bị đơn không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bị đơn.
Do đó căn cứ khoản 2, 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự phản đối yêu cầu của ngườ i khá c đối vớ i minh phải thể hiê ̣n bằ ng văn bản và
̀
phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tò a á n tà i liê ̣u , chứ ng cứ để chứ ng minh cho sự phản đối đó...
Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.
Trong khi đó phần đất tranh chấp từ trước đến nay là do phía nguyên đơn trực tiếp quản lý và canh tác. Trong quá trình sử dụng đất nguyên đơn đã sử dụng đất đúng mục đích làm tăng huê lợi, tăng giá trị đất. Hiện tại phần đất tranh chấp bà Thị Th (mẹ của nguyên đơn) đã kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện Long Mỹ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại công văn số 4112/UBND-TNMT ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Ủy ban nhân dân huyê ̣n Long My cõ ́ nô ̣i dung như sau: Trườ ng hợp của hô ̣ Danh Khiêl có đơn xin đăng ký quyền sử du ̣ng đất lâ ̣p ngày 07/12/1996, vớ i tổng diê ̣n tích 22.691m2, gồm các thử a đất như sau : Thử a đất số 707, diê ̣n tich 10.037m2,
́ loại đất LNK ; thử a 704, diê ̣n tich 4.737m2, loại đất Mùa ; thử a 611, diê ̣n tich
́
́ 5.867m2, loại đất Mùa; thử a 705, diê ̣n tich 1.750m2, loại đất LNK; thử a 706, diê ̣n
́
tích 300m2, loại đất T. Tất cả các thử a đất trên thuô ̣c tờ bản đồ số 7, đi ̣a chi ẩ ́p 07, xã Lương Tâm , huyê ̣n Long Mỹ , tỉnh Cần Thơ (nay là ấp 10, xã Lương Nghĩa , huyê ̣n Long Mỹ , tỉnh Hậu Giang). Hô ̣i đồng đăng ký đất đai xa Lương Tâm xã
́c nhâ ̣n hồ sơ hợp lê ̣, tại Mục II, Quyết đi ̣nh số 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cu ̣c Quản lý ruô ̣ng đất về viê ̣c ban hành Quy đi ̣nh cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất , đa được Ủ y ban nhân dân huyê ̣n Long My cấp Giấy chưng
̃
̃
́ nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số 00221 ngày 09/9/1997.
Như vâ ̣y, viê ̣c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số 00221, cấp ngày 09/9/1997 cho hô ̣ Danh Kh là đúng đối tượng kê khai Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất lập ngày 07/12/1996 và theo khoản 1 Điều 2 Luâ ̣t đất đai năm 1993 quy đi ̣nh: “Ngươi sử du ̣ng đất ổn đi ̣nh, được Ủ y ban nhân dân xa, phương, thị trấn xác
̀
̃
̀ nhâ ̣n thi được cơ quan Nhà nướ c có thẩm quyền xét và cấp giấy chứ ng nhâ ̣n
̀ quyền sử du ̣ng đất”.
Năm 2011, hô ̣ Danh Khiêl có đơn đề nghi ̣ cấp lại, cấp đổi giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số 00221 ngày 09/9/1997, được Ủ y ban nhân dân huyê ̣n Long Mỹ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00232, ngày 26/7/2011 công nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đối vớ i thử a đất số 707, diê ̣n tich 9.609m2, loại đất trồng
́ cây lâu năm , tờ bản đồ số 07, đi ̣a chi ẩ ́p 10, xã Lương Nghĩa , huyê ̣n Long Mỹ , tỉnh Hậu Giang và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH
00233, ngày 26/7/2011 công nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đấ t đối vớ i thử a đất số 706, diê ̣n tich 300m2,
́ loại đất ở tại nông thôn , tờ bản đồ số 07, đi ̣a chi ẩ ́p 10, xã Lương Nghĩa , huyê ̣n Long My, tỉnh Hậu Giang.̃
Năm 2014, ông Danh Kh chết, bà Thị Th thừ a kế toàn bô ̣ diê ̣n tich đấ t ta ̣i
́ thử a đất số 706 và 707 nêu trên theo Văn bản phân chia tai sản thưa kế được Ủ y
̀
̀ ban nhân dân xa Lương Nghia chưng thực ngay 22/4/2015, được Ủ y ban nhân
̃
̃
́
̀
dân huyê ̣n Long My cẫ ́p Giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số CH
01283 và CH01284 cấp cùng ngày 01/7/2015.
Như vâ ̣y, viê ̣c bà Thi ̣ Th nhâ ̣n thừ a kế từ ông Danh Kh đúng theo quy đi ̣nh tại khoản 1 Điều 188 Luâ ̣t đất đai 2013 và văn bản phân chia tài sản thừa kế được Ủy ban nhân dân xa Lương Nghĩ
a chữ
́ ng thực ngày 22/4/2015 đúng theo quy đi ̣nh tại điểm c khoản 3 Điều 167 Luâ ̣t đất đai năm 2013. Đồng thời, trình tự, thủ tục thừ a kế đảm bảo theo Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành mô ̣t số điều của Luâ ̣t đất đai.
Trong quá trinh cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho hô ̣ Danh Kh
̀ và thủ tục nhận thừa kế của bà Thị Th tại thửa số 707 và 706 do ông Danh Khiêl chết để la ̣i không phát sinh tranh chấp, khiếu na ̣i.
Từ những phân tich trên , có căn cứ xác định phần đất đang tranh chấp
́ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chị Thị Khem M , chị Thị Kol Th nên viê ̣c nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất là có căn cứ chấp nhận.
. Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án bi ̣ đơn có yêu cầu phản tố , yêu cầu
̀ Tòa án xem xét giải quyết đối với phần đất trên của bị đơn . Tòa án có văn bản yêu cầu bi ̣ đơn thực hiê ̣n quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 200 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự. Tuy nhiên, sau đó bi ̣ đơn xin rút la ̣i yêu cầu phản tố nên hô ̣i đồng xét xử không xem xét đối vớ i yêu cầu phản tố của bi ̣ đơn.
. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự. Buộc ông Danh Del phải chịu 4.492.000 đồng, ông Danh D nộp để hoàn trả lại cho Thị Khem M, chị Thị Kol Th.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Danh Del phải nô ̣p 300.000 đồng. Chị Thị Khem Ma , chị Thị Kol Tha được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
. Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Long Mỹ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 99, 100, 203 Luật đất đai năm 2013.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Khem M, chị Thị Kol Th đối với bị đơn Danh D.
2. Buộc bị đơn Danh D phải giao trả cho nguyên đơn Thị Khem M, Thị Kol Th phần đất tranh chấp tại mô ̣t phần thửa 707 (3172), thể hiê ̣n ta ̣i vi ̣ tri (IIB) trong
́ mãnh trích đo, diện tích theo như đo đạc thực tế là 578,1m2, loại đất CLN, thuộc tờ bản đồ số 7; tọa lạc tại ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01284 cấp ngày 01/7/2015 do bà Thị Thờ i đứng tên trên giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . Phần đất có kích thước như sau: Ngang trướ c giáp phần còn la ̣i thửa 3172 (vị trí I) là 15,39m; ngang sau giáp phần còn la ̣i thử a 3172 (vị trí III) là 17,65m + 1,16m; dài giáp thửa 705 là 39,21m + 1,96m; dài giáp phần còn la ̣i thửa 3172 (vị trí I) là 9,12m + 9,28m + 17,22m + 7,45m + 14,30m.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn Danh D phải nô ̣p 4.492.000 đồng, bị đơn Danh Del nộp để hoàn trả lại cho nguyên đơn chị Thị Khem M, chị Thị Kol Th.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Bị đơn Danh D phải nô ̣p 300.000đ (ba trăm nghin đồng).
̀
4.2. Nguyên đơn chi ̣ Thị Khem M, chị Thị Kol Th được nhận lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu tiền số 0001953 lập ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/3/2022). Ngườ i có quyền lợi và nghia vu ̣̃
liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Long Mỹ; - Chi cục THADS huyện Long Mỹ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lữ Thành Đồng |