vanban.org

Bản án 13/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Tuyên án 01/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “ Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Phan Văn P 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46,47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn P - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “ Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN N DÂN
HUYỆN CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2021/HSST
Ngày: 01– 02 – 2021

N DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN N DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hà

Các Hội thẩm N dân:

1. Ông Nguyễn Việt Thành

2. Bà Hồ Thị Xuân Thiều

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án N dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Thân Văn Chẻo – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 02 năm 2021 tại Toà án N dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2021/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/HSST-QĐ ngày 20/01/2021 đối với bị cáo:

PHAN VĂN P, sinh năm 1977 tại Bình Phước; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: tổ 7, ấp 3, thị trấn C1, huyện C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị V ; vợ Phan Thị Cẩm H ;con có 01 người sinh năm 2009;tiền án: 01(Ngày 21/5/2019 bị Tòa án N dân huyện Chơn Thành, Bình Phước xử phạt 30 triệu đồng về tội “ Đánh bạc” tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2019/HSST , bị cáo chưa chấp hành xong; tiền sự: Không, N thân: Ngày 24/01/2002 bị Tòa án N dân quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/HSST, đã được xóa án tích; Ngày 21/5/2019 bị Tòa án N dân huyện Chơn Thành, Bình Phước xử phạt 30 triệu đồng về tội “Đánh bạc”, bị cáo chưa chấp hành xong; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là ngƣời làm chứng:

1. Nguyễn Phúc T1, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: Ấp 2, thị trấn C1,

huyện C, tỉnh Bình Phước.

2. Kim T2, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước.

3. Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; Địa chỉ cư trú: Khu phố Trung Lợi, thị trấn C1, huyện C, tỉnh Bình Phước.

4. Nguyễn Văn H, sinh năm 1960; Địa chỉ cư trú: Khu phố Trung Lợi, thị trấn C1, huyện C, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn P có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích (theo Bản án số 42/2019/HSST, ngày 21/5/2019 của Tòa án N dân huyện Chơn Thành xử phạt 30.000.000 đồng. P chưa chấp hành xong hình phạt).

Khoảng 14 giờ ngày 11/6/2020, Phan Văn P cùng Lê Phúc T1, sinh năm 1991, cư trú tại: ấp 2, TT Chơn Thành, huyện Chơn Thành; Kim T2, sinh năm 1991, cư trú tại: ấp 1, xã M, huyện C và Nguyễn Văn N, sinh năm 1986, KP Trung Lợi, TT Chơn Thành, huyện Chơn Thành đến nhà ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960, cư trú tại: KP Trung Lợi, TT Chơn Thành, huyện Chơn Thành chơi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thấy tại bàn uống nước có 01 bộ cờ các ngựa nên tất cả cùng rủ nhau chơi đổ cờ cá ngựa ăn tiền. Trước khi chơi T1 sử dụng số tiền 100.000 đồng, N sử dụng số tiền 100.000 đồng, T2 sử dụng số tiền 150.000 đồng và P sử dụng số tiền 1.388.000 đồng để đánh bạc.

Cách thức chơi: Sử dụng 01 bộ cờ cá ngựa gồm 16 con ngựa chia đều cho 04 người chơi, 02 cục xúc xắc (xí ngầu) và 01 tô sứ để quay. Quy ước mỗi người quay xúc xắc 01 lượt và xoay vòng, nếu hai cục xúc xắc cùng số thì ngựa được xuất đi và được quay lượt thêm lượt tiếp theo, bước đi của ngựa căn cứ vào số điểm trên hai cục xúc xắc (một điểm trên cục xúc xắc tương đương với một bước thể hiện bước đi của ngựa trong bàn cờ).

Cách xác định thắng thua: Khi ngựa bị đá, người chơi có ngựa bị đá pH trả cho người đá số tiền 10.000 đồng. Còn khi ngựa lên chuồng thì 03 người còn lại pH trả cho người có ngựa vào chuồng số tiền 20.000 đồng. Tuy nhiên, khi cả 04 con ngựa vào chuồng thì mới xét ngựa và trả tiền (BL 39; 43-48; 98-99; 102-103; 106-107).

Tất cả chơi đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thị trấn Chơn Thành kiểm tra phát hiện, thu giữ 01 bộ cờ cá ngựa (gồm 01 bàn ngựa, 16 con ngựa bằng nhựa, 02 cục xí ngầu), 01 tô sứ màu trắng và số tiền 30.000 đồng tại chiếu bạc (vị trí ngồi của Kim T2). Do trong quá trình chơi cho đến khi bị Công an thị trấn Chơn Thành phát hiện thì ván bạc chưa kết thúc nên chưa xác định được việc thắng thua (BL 01).

Như vậy, tổng số tiền vốn các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 1.618.000 đồng.

Về vật chứng: 01 bộ cờ cá ngựa gồm 01 bàn ngựa, 16 con ngựa bằng nhựa, 02 cục xí ngầu và 01 tô sứ màu trắng; Số tiền 1.618.000 đồng là tiền bị cáo P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan T1, Tuấn, N sử dụng để đánh bạc.

Bản cáo trạng số 10/Ctr-VKS ngày 04/01/2021 của Viện kiểm sát N dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Phan Văn P phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước thực hành quyền công tố và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận T1 bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là lao động chính của gia đình, hiện mắc bệnh HIV. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Đánh bạc” và áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 06-08 tháng tù.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đồng ý về tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng và không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận nên kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do đó có cơ sở kết luận: Ngày 11 tháng 6 năm 2020, Phan Văn P cùng Lê Phúc T1, Kim T2, Nguyễn Văn N đã thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức “ đổ cá ngựa ăn tiền” với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.618.000 đồng. Tuy số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo Phan Văn P đã có 01 tiền án về tội “ Đánh bạc” chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo Phan Văn P thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sữa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự trị an do Nhà nước quản lý. Hành vi đó đã gây mất trật tự tại địa P, là hậu quả làm phát sinh các tệ nạn xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, cáo trạng số 10/Ctr-VKS ngày 04/01/2021 của Viện kiểm sát N dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Phan Văn P về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2019/HSST của Tòa án N dân huyện Chơn Thành, Bình Phước, chưa được xóa án tích nhưng được xác định là dấu hiệu định tội do số tiền đánh bạc lần phạm tội này chưa đủ định lượng. Vì vậy, tiền án này không được coi là tình tiết tăng nặng “tái phạm” đối với bị cáo. Do đó, bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là lao động chính của gia đình lại đang mắc bệnh HIV, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có N thân xấu, đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần pH xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa đề nghị của đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: 01 bộ cờ cá ngựa gồm 01 bàn ngựa, 16 con ngựa bằng nhựa, 02 cục xí ngầu và 01 tô sứ màu trắng. Đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 1.618.000 đồng là tiền bị cáo P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan T1, Tuấn, N sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước

Đối với Lê Phúc T1, Kim T2, Nguyễn Văn N là người tham gia đánh bạc với Phan Văn P. Do số tiền chưa đủ định lượng mà T1, T2, N chưa bị xử phạt hành chính hoặc kết án về tội đánh bạc nên hành vi của T1, T2, N chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Do đó, Công an huyện Chơn Thành đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn H là chủ nhà nơi bị cáo P sử dụng địa điểm đánh bạc. Quá trình điều tra xác định thời điểm đánh bạc ông H không có ở nhà và không biết việc đánh bạc. Do đó, không có cơ sử xử lý đối với ông H.

Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo pH chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38,50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

2. Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “ Đánh bạc”

3. Xử phạt bị cáo Phan Văn P 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46,47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ cờ cá ngựa gồm 01 bàn ngựa, 16 con ngựa bằng nhựa, 02 cục xí ngầu và 01 tô sứ màu trắng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.618.000 đồng

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo pH chịu 200.000 ( Hai trăm ngàn) đồng

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ