vanban.org

Bản án 13/2021/HS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Đ. Về con chung: Bà T và ông Đ xác nhận có 02 người con chung là Nguyễn Thanh T, sinh năm 1997, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Thanh Bảo V, sinh ngày 03/12/2006. Giao con chung là Nguyễn Thanh Bảo V cho bà T trực tiếp n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tạ Thị Thanh T và Nguyễn Đ Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 13/2021/HNGĐ-ST
Ngày 05-02-2021
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy và bà Nguyễn Thị Di.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 398/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/01/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tạ Thị Thanh T, sinh năm 1976 (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1972 (vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải tại tòa, nguyên đơn bà Tạ Thị Thanh T trình bày:

Bà Tạ Thị Thanh T và ông Nguyễn Đ tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 1994 nhưng đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn, có tổ chức đám cưới. Đến đầu năm 2019 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông Đ thường xuyên uống rượu bia về đánh bà T, gần đây nhất là vào đầu tháng 10/2020 ông Đ dùng chày đâm tiêu đánh vào đầu bà T và ông Đ còn dùng dao rựa đập phá cửa nhà. Hiện nay, bà T đã dọn đi chỗ khác sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân. Vợ chồng có gặp nhau nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay Bà T nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với ông Đ được nữa. Vì vậy bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 người con chung là Nguyễn Thanh T, sinh năm 1997, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Thanh Bảo V, sinh ngày 03/12/2006. Bà T yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Thanh Bảo V cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo bản tự khai, biên bản hòa giải tại tòa, bị đơn ông Nguyễn Đ trình bày:

Bà Tạ Thị Thanh T và ông Nguyễn Đ tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 1994 nhưng đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn, có tổ chức đám cưới. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trước đây khoảng 3 năm, vợ chồng hay cãi nhau, tôi có đánh bà T vài lần 1, 2 bạc tai. Khoảng đầu năm 2020, bà T thường xuyên làm việc trên điện thoại (bán hàng trên mạng), không chăm lo gì đến nhà cửa; phòng riêng của vợ chồng, bà T không ngủ mà lại sang phòng con ngủ nên ông Đ bức xúc có đánh bà T bằng chày đâm tiêu (ông Đ chỉ quơ hăm dọa nhưng vô ý đánh trúng vào đầu bà T) và dùng dao rựa đập phá cửa phòng của con. Hiện nay, bà T đã dọn đi nơi khác sinh sống. Nay ông Đ nhận thấy tình cảm vẫn còn với bà T nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 người con chung là Nguyễn Thanh T, sinh năm 1997, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Thanh Bảo V, sinh ngày 03/12/2006. Nếu ly hôn, ông Đ đồng ý giao cháu Nguyễn Thanh Bảo V cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà T giao con chung là Nguyễn Thanh Bảo V, sinh ngày 03/12/2006 cho Bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông Đ không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Đ tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, sự mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông Đ là có thật, ông Đ thừa nhận cách đây 3 năm có đánh bà T vài lần 1, 2 bạc tai; ông Đ thừa nhận đầu năm 2020 có dùng chày đâm tiêu đánh trúng đầu bà T. Vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, bất đồng quan điểm nên hiện nay đã sống ly thân. Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông Đ và bà T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T và ông Đ xác nhận có 02 người con chung là Nguyễn Thanh T, sinh năm 1997, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Thanh Bảo V, sinh ngày 03/12/2006. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Vy và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Vy có nguyện vọng ở với bà T, mặt khác ông Đ cũng đồng ý giao cháu Vy cho bà T trực tiệp nuôi dưỡng, nên chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Vy cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Thanh T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Đ.

- Về con chung: Bà T và ông Đ xác nhận có 02 người con chung là Nguyễn Thanh T, sinh năm 1997, đã trưởng thành, phát triển bình thường và Nguyễn Thanh Bảo V, sinh ngày 03/12/2006. Giao con chung là Nguyễn Thanh Bảo V cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.

Ông Nguyễn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông Đ không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bà Tạ Thị Thanh T phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 04088 ngày 13/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà T đã nộp xong.

3. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (05/02/2021) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Nguyễn Thị Di

Đỗ Hữu Trí

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ