vanban.org

Bản án 13/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 30/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước. Giao bị cáo Lê Thị T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Quảng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo T phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƯ NGHĨA
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HS-ST
Ngày: 30 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tài Tính.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Ngọc Thuận.

2. Bà Lê Thị Bích Lan.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Thịnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lê Thị T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 27 tháng 5 năm 1978; tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn An Hội B, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê G, con bà Trần Thị M; chồng là ông Đỗ Văn C; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 28 tháng 02 năm 2021 cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1974. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1940. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Cùng trú tại địa chỉ: Thôn An Hội B, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DỤNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 55 phút ngày 06/01/2021, Lê Thị T đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề thắng, thua bằng tiền tại nhà. Trong số những người ghi số lô, số đề của Lê Thị T có ông Nguyễn Xuân H và bà Nguyễn Thị C. Lê Thị T lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh K để thực hiện việc nhận ghi số lô, số đề và trả kết quả thắng, thua cho người chơi số lô, số đề. Tổng số tiền đánh bạc của Lê Thị T trong ngày 06/01/2021 tại thời điểm bị phát hiện là 6.502.000 đồng (Sáu triệu năm trăm không hai nghìn đồng), (bút lục số: 01, 03-04). Lê Thị T khai nhận đã thực hiện việc ghi số lô, số đề từ đầu tháng 01/2021. Những người ghi số lô, số đề đến tại nhà T để ghi. Sau khi nhận tiền và ghi số lô, số đề vào tịch đề, T đưa cho người chơi một mảnh giấy có ghi con số đánh lô, đề và số tiền đánh để làm căn cứ nhận kết quả thắng, thua sau khi có kết quả xổ số. Sau khi chung chi xong cho người chơi, T hủy các tịch đề đã ghi. Hình thức đánh bạc và tỷ lệ thắng thua được thực hiện như sau:

Trường hợp mua số đề bằng hình thức đầu đuôi mà số đề đã mua đầu trùng với số giải tám trong kết quả xổ số các tỉnh miền Trung hoặc số đề đã mua đuôi trùng với 02 (hai) số cuối của số đặc biệt trong kết quả xổ số các tỉnh miền Trung, thì tỷ lệ tiền thưởng được nhận là gấp 70 (bảy mươi) lần số tiền cược.

Trường hợp mua số đề bằng hình thức bao lô loại 02 (hai) số mà số đề đã mua trùng với 02 (hai) số cuối của một trong các số trong kết quả xổ số các tỉnh miền Trung, thì tỷ lệ tiền thưởng được nhận là gấp 70 (bảy mươi) lần số tiền cược đối với một lần trùng.

Trường hợp mua số đề bằng hình thức xiên lô loại 02 (hai) số mà cả hai số đề đã mua trùng với 02 (hai) số cuối của một trong các số trong kết quả xổ số các tỉnh miền Trung, thì tỷ lệ tiền thưởng được nhận là gấp 500 (năm trăm) lần số tiền cược đối với một lần cùng trùng.

Tại Kết luận giám định số 200/KLGĐ-PC09 ngày 26/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Các chữ viết (chữ số) trên 02 (hai) tờ giấy vở học sinh với chữ viết (chữ số) trên các tài liệu mẫu so sánh có đầu đề “Bản tự khai” đề các ngày 06/01/2021, 19/01/2021, 20/01/2021 ghi tên Lê Thị T là do cùng một người viết ra.

Ngày 28/02/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Tư Nghĩa ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Thị T về hành vi “Đánh bạc”.

Cáo trạng số: 315/CT-VKSTN-HS ngày 19/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lê Thị T về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Thị T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) đến 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự xử lý:

-Tịch thu tiêu hủy Đối với 02 (hai) cây bút mực màu xanh, có chữ “SUNBEAM” đây là công cụ phương tiện phạm tội.

-Tịch thu của bị cáo số tiền đánh bạc của bị cáo là 6.251.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

-Truy thu của ông Nguyên Xuân H 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) và bà Nguyễn Thị C 231.000 đồng (Hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

-Tuyên trả lại cho bị cáo T với số tiền là 25.303.000 đồng (hai mươi lăm triệu, ba trăm lẻ ba nghìn đồng)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên Tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Xuân H và bà Nguyễn Thị C đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử Quyết định xét xử vắng mặt ông H, bà C là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 16 giờ 55 phút ngày 06/01/2021, bị cáo Lê Thị T đã lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh K để thực hiện việc nhận ghi số lô, số đề và trả kết quả thắng, thua cho người chơi số lô, số đề tại nhà của bị cáo ở thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Lê Thị T trong ngày 06/01/2021 tại thời điểm bị phát hiện là 6.502.000 đồng (Sáu triệu, năm trăm không hai nghìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về năng lực trách nhiệm hình sự, tính chất nguy hiểm của hành vi:

Bị cáo Lê Thị T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì ham muốn thu lợi bất chính nên bị cáo đã cố ý thực hiện.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh; an ninh trật tự tại địa phương. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, truy tố về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người , đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng mức hình phạt tương ứng để giáo dục bị cáo và răn đe kẻ khác phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Thị T không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi phạm tội của bị cáo không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để theo dõi, giám sát, giáo dục và áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo tiến bộ.

Đối với hai người đánh bạc với bị cáo Lê Thị T vào ngày 06/01/2021 là ông Nguyễn Xuân H và bà Nguyễn Thị C, cụ thể ông Hiển đánh bạc với số tiền 20.000 đồng, bà C đánh bạc với số tiền 231.000 đồng, nhưng chưa đưa tiền qua cho bị cáo T. Các đối tượng này không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc hoặc tội Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tư Nghĩa không đủ cơ sở truy tố về trách nhiệm hình sự đối với hai đối tượng này mà chỉ xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Cần truy thu số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) của ông H và số tiền 231.000 đồng (hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) của bà C để nộp vào ngân sách nhà nước là đúng quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng đã thu giữ tại thời điểm phạm tội quả tang, hiện nay Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 5 năm 2021, xử lý như sau:

- Đối với 02 (hai) cây bút mực màu xanh, có chữ “SUNBEAM” đây là công cụ phương tiện phạm tội nên cần phải tịch thu tiêu hủy.

- Tại thời điểm bị phát hiện bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Thủy với số tiền là 31.554.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng)

Trong quá trình điều tra xác định số tiền đánh bạc của bị cáo Lê Thị T là 6.502.000 đồng (Sáu triệu năm trăm không hai nghìn đồng), trong đó có cả số tiền đánh bạc mà bị cáo T chưa thu của ông H là 20.000 đồng và của bà C là 231.000 đồng nên chỉ thu số tiền đánh bạc của bị cáo T là 6.251.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại là 25.303.000 đồng ((hai mươi lăm triệu, ba trăm lẻ ba nghìn đồng) không liên quan đến hành vi đánh bạc nên tuyên trả lại cho bị cáo T.

. Nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt, xử lý vật chứng phù hợp với phân tích, đánh giá và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 và khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Lê Thị T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Thị T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Quyết định buộc bị cáo Lê Thị T phải chấp hành hình phạt tù của bản án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

-Tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) cây bút mực màu xanh, có chữ “SUNBEAM”.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 6.251.000 đồng (sáu triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng).

- Tuyên trả lại cho bị cáo Lê Thị T số tiền là 25.303.000 đồng (hai mươi lăm triệu, ba trăm lẻ ba nghìn đồng).

Số vật chứng nêu trên, Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 5 năm 2021 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Tư Nghĩa và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tư Nghĩa).

4. Truy thu số tiền đánh bạc của ông Nguyễn Xuân H là 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) và của bà Nguyễn Thị C là 231.000 đồng (hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

5. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Lê Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ