- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Tú - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/HS-ST Ngày: 22-03-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Quyết;
Ông Bùi Văn Ơn
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Khuất Duy Xuân Quý- Kiểm sát viên sơ cấp thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 22/03/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 06/01/1995 tại thị trấn V, huyện L, tỉnh H. Nơi cư trú: phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh H. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn) 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; vợ con chưa có; Túiền án, túiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình ngày 13/11/2020. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trần Văn M, sinh năm 1974. Nơi cư trú: phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt.
- Người chứng Kiến:
+ Bùi Quang P, sinh năm 1995. Nơi cư trú: phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt;
+ Đoàn Hồng T, sinh năm 1969. Nơi cư trú: phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 13/11/2020, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28FZ – 13333 thuộc quyền sở hữa của anh Trần Văn M đi từ nhà đến khu vực xóm C, xã Y, huyện L, tỉnh H với mục đích tìm mua ma Túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T đã gặp và mua được 01 gói giấy và 02 gói nilon bên trong đều chứa ma túy với số tiền 160.000 đồng của một người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng. Mua đươc ma Túy, T tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến đoạn đường thuộc địa phận phố H, thị trấn V, huyện L thì bị tổ công tác Công an huyện Lạc Sơn và công an thị trấn Vụ Bản tiến hành kiểm tra hành chính và thu giữ trong túi quần bên trái T đang mặc 01 gói giấy và 02 gói nilon bên trong đều chứa chất dạng cục mầu trắng, T khai là ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 338/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 2011/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “Chất bột dạng cục mầu trắng trong 01 gói giấy và 02 gói nilon trong phong bì niêm phong gửi giám định ghi tên Nguyễn Ngọc T có tổng khối lượng 0,13 gam là ma túy, loại Heroin”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với vật chứng thu giữ được.
Cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 04/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 03 mẫu ma túy, loại heroine (gói 1: 0,01g; gói 2: 0,03g; gói 3: 0,03g) tổng khối lượng 0,07g cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong trong phong bì vật chứng hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ đề nghị tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a và c khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 xe mô tô biểm kiểm soát 28FZ – 13333, xe cũ đã qua sử dụng là phương túiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu của Trần Văn M, sinh năm 1974. Nơi cư trú: phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh H là phù hợp qui định tại khoản 2 Điều 47 bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX chấp nhận.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Ngọc T vào ngày 13/11/2020, do không rõ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng nên chưa có căn cứ để xác minh và kết luận đề nghị khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định.
Bị cáo không có lời bào chữa, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan túiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Ngọc T tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người chứng kiến, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 13/11/2020, tại địa phận phố H, thị trấn Vụ Bản, huyện L Nguyễn Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,13g (Không phẩy mười bảy gam) chất ma túy, loại Heroine tại túi quần bên trái đang mặc của mình với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T là nghiêm trọng, trực túiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an, gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho đời sống xã hội. Heroin là chất ma túy rất độc hại, tàn phá và hủy hoại sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhận thức đầy đủ về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện- lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực túiếp.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình túiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình túiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thỏa mãn qui định về tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cần được xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong quá trình lượng hình.
Về hình phạt chính: Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; Căn cứ tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo; Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiệm khắc cách ly xã hội một thời gian đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma Túy, nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 03 mẫu ma túy, loại heroine (gói 1: 0,01g; gói 2: 0,03g; gói 3: 0,03g) tổng khối lượng 0,07g cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong trong phong bì vật chứng hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu túiêu hủy theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a và c khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 xe mô tô biểm kiểm soát 28FZ–13333, xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Xét thấy, không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu của Trần Văn M. Việc xử lý nếu trên là phù hợp qui định tại khoản 2 Điều 47 bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự nên HĐXX chấp nhận và không đề cập giải quyết trong vụ án.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do không rõ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng, chưa có căn cứ để xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/11/2020 (Ngày bị cáo bị tạm giữ).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc T 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy đối với 03 mẫu ma túy, loại heroine (gói 1: 0,01g; gói 2: 0,03g; gói 3: 0,03g) tổng khối lượng 0,07g cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong trong phong bì vật chứng hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ.
(Vật chứng nêu trên hiện được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn theo đúng mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho ngày 05/02/2021).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - CCTHADS huyện Lạc Sơn; - Công an huyện Lạc Sơn; - UBND thị trấn Vụ Bản; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |