- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/HS-ST Ngày 10-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thế Kỳ và ông Nguyễn Đắc Nhơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Việt B; sinh ngày 15 tháng 02 năm 1991, tại Sơn La; nơi cư trú: Thôn 14, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1964; con bà Phan Thị L, sinh năm 1957. Hiện cả hai đang trú tại thôn 14, xã Đ, huyện Đ; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: 01, ngày 08/6/2010 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án sơ thẩm số 87/2010/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2012 theo giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 49/GCN ngày 13/5/2012 của Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La, bị cáo chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự đối với số tiền 160.000 đồng cho bị hại Cà Văn M theo quyết định của bản án. Bị cáo chưa được xóa án tích; tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk R’Lấp – Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Chị Đặng Thị Thu Th, sinh năm 1988 .
Địa chỉ: Thôn 1, xã Q, huyện T, tỉnh Đăk Nông. (có mặt)
Chị Chung Thị Mai T, sinh năm 1982
Địa chỉ: Bon P, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đăk Nông.
(vắng mặt không lý do)
Ông Lê Quang L, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn 12, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.
(vắng mặt không lý do)
Người làm chứng:
Anh Mai Đại T , sinh năm1997
Địa chỉ: Thôn 14, xã Đ, huyện Đ, tinh Đắk Nông.
Anh Nguyễn Khắc D,
Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tinh Đắk Nông.
(Đều vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Việt B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 20/8/2020, Nguyễn Việt B, đang ở phòng trọ của Lê Quang T, địa chỉ tại: Thôn 14, xã Đ, huyện Đ thì Nguyễn Khắc D, sinh năm 1982, gọi điện thoại và nhắn tin cho B để đặt vấn đề mua "một hộp năm" ma Ty "đá". Qua trao đổi hai bên thống nhất, giá "một hộp năm" ma túy đá" là 5.800.000 đồng. Về địa điểm mua bán ma tuý, hai bên mới chỉ thống nhất, khi nào D đi đến khu vực ngã ba N thì gọi điện cho B, rồi hai bên tiếp tục thống nhất địa điểm cụ thể để thực hiện giao dịch mua bán ma túy.
Sau đó, B nhắn tin qua dịch vụ Messenger (mạng Facebook) cho Mai Đại T , nhờ T mang xe máy tới chở B đi bán ma Ty. Tuy nhiên T không có xe máy, song T vẫn đồng ý đi bán ma Ty với B. Sau đó, B nhắn tin hỏi T (lúc này T đang ở nhà tại Thôn 12, xã N) để mượn xe của T và được T đồng ý. Sau khi T đồng ý cho mượn xe, B gọi điện thoại nói cho T biết, đồng thời nói T tới phòng trọ của T. Một lát sau, T chạy mô tô, biển kiểm soát: 88S7-8415 tới cho B mượn. Sau đó, T đi bộ tới chỗ làm gần đó.
Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, T đi bộ đến phòng trọ của T. Tại đây, T gặp B đang đứng ở khu vực phía trước cửa phòng trọ. Khi đó B nói với T "đợi thằng này lâu ghê" thì T hỏi "đợi ai", B trả lời "đợi thằng lấy đồ, tí thằng kia alô rồi mang đồ ra giao cho nó", khi đó T im lặng. Nội dung nói chuyện trên được hai bên hiểu với nhau rằng B phàn nàn với T là đợi D lâu quá, đồng thời, B nói và được T ngầm đồng ý là khi nào D điện thoại thì B sẽ cùng với T đi bán ma tuý cho D.
Do trước đó, T có nhờ B đặt trên mạng mua giúp T cái đèn LED để gắn vào xe máy. Vào ngày 19/8/2020, B đã thông báo cho T biết là ngày 20/8/2020 sẽ nhận được đèn LED. Do đó, khi đang ở phòng của T như trên thì T hỏi B "cái đèn chừng nào người ta giao tới", B trả lời "chắc trưa (trưa nay) người ta mới giao tới", T nói tiếp "anh có số người giao hàng đó không, gọi xem thử người ta có giao tới bây giờ không". Khi nghe T nói như vậy thì B lấy điện thoại gọi cho người giao đèn nhưng điện thoại báo máy bận nên B nói với D "không liên lạc được". Sau đó, B đi vào bên trong phòng trọ của T. Thấy vậy, D cũng đi vào theo sau và nói với B "hay anh em mình đi uống cà phê đi, ra đấy gọi điện thoại cho thằng shipper lấy đèn", và B đồng ý.
Ngay sau đó, D điều khiển xe môtô biển kiểm soát: 88S7-8415 của T chở B đến quán cà phê “FOX” tại thôn 3, xã N, huyện Đ. Khi xe chạy đến khu vực để rác thải sinh hoạt phía trước quán cà phê “FOX” thì B ngồi sau xe, móc tay vào trong túi quần của mình, lấy vỏ bao thuốc lá hiệu Hoà Bình, bên trong có chứa gói ma túy "đá" ra, rồi thả xuống vị trí gần thùng xốp đựng rác. Khi đó, D đang điều khiển xe môtô nên không biết. Sau khi xuống xe, cả hai vào ngồi tại bộ bàn ghế ở phía trước cửa quán cà phê. Quá trình ngồi uống cà phê tại đây, D tiếp tục nhờ B gọi điện thoại cho người giao đèn Led. Khi B gọi điện thoại thì máy tiếp tục báo máy bận, nên B nói với D "không liên lạc được". Sau khi nghe B nói như vậy thì D lấy điện thoại của mình ra chơi game. Một lúc sau, B nhận được điện thoại của D thông báo là D đã đến ngã ba N. Khi đó, B đi ra phía trước quán cà phê để đón D vào quán cà phê “FOX”. Khi gặp nhau, B hỏi D "tiền đâu", D trả lời "cho xem hàng (ma tuý) trước". Lúc này, B dẫn D ra khu vực để rác thải sinh hoạt của quán. Tại đây, B nhặt vỏ bao thuốc lá hiệu Hoà Bình, bên trong có chứa gói ma túy “đá” lên để đưa cho D kiểm tra. Khi chưa kịp giao số ma túy trên cho D thì B bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R'Lấp phát hiện bắt quả tang, thu giữ T bộ tang vật và tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật,
Tại bản kết luận giám định số 135/KLMT-PC09 ngày 26/08/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon kích thước (4,2 x 7,4)cm, được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 1,8008 gam; là Methamphetamine. Mẫu tinh thể màu trắng trong bì thư hoàn lại sau giám định có khối lượng là 1,5821 gam.
Tại Cáo trạng số: 13/CTr - VKS ngày 29 tháng 01 năm 2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Việt B về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt B từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 1.5821gam methamphetamine hoàn lại sau giám định 01vỏ bao thuốc lá màu trắng đen xanh hiệu Hòa Bình. 01 cân tiểu ly điện tử màu trắng, kích thước (11 x 06) cm; 05 đoạn ống thủy tinh, kích thước (0,3 x 18) cm; 03 đoạn ống thủy tinh, một đầu được uốn cong, đoạn cuối của đầu uốn cong có hình bầu dục (nỏ); 04 gói nilon trong suốt, kích thước (1,7 x 2,6) cm, phần miệng mỗi gói đều có khóa bấm màu trắng, cạnh khóa bấm có một đường kẻ ngang màu xanh; 08 quẹt gas có các màu sắc khác nhau.
Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha, màu đen-bạc, mang BKS: 88S7-8415, số khung: B9508Y014502, số máy: 5B95014502. Quá trình điều tra xác định, bà Chung Thị Mai T, sinh năm 1982, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bon P, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông là người quản lý hợp pháp chiếc xe môtô trên. Chiếc xe này bà Trinh gửi nhờ tại nhà ông Lê Quang L, địa chỉ: Thôn 12, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. trên, ông L đã cho con trai mình là Lê Quang T sử dụng để đi lại. Sáng ngày 20/8/2020, sau khi B nhắn tin hỏi mượn xe máy thì T đồng ý và mang chiếc xe môtô trên tới cho B để đi lại. Bà Trinh không biết việc B sử dụng xe môtô trên của mình để đi bán trái phép chất ma túy. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R’Lấp đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả chiếc xe môtô trên cho người quản lý hợp pháp là bà Chung Thị Mai T.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu trắng, số IMEI: 354787063908358 và tổng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Khắc D, không liên quan đến việc phạm tội của Nguyễn Việt B nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R’Lấp đã ra quyết định xử lý đồ vật bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Khắc D.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 569499082565038, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Mai Đại T, không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Việt B nên Cơ quan CSĐT Công an huyện ra quyết định xử lý đồ vật bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Mai Đại T.
Đối với việc Nguyễn Việt B khai nguồn gốc số ma túy là của Đặng Thị Thu Th, sinh năm 1988, trú tại: Thôn 1, xã Quảng T, huyện T, Th đưa cho B bán để trừ nợ số tiền mua ma túy của Th để sử dụng. Tuy nhiên quá trình điều tra không có cơ sở để xác định số ma túy trên là của Th nên không có căn cứ xử lý đối với Th
Đối với Nguyễn Khắc D, đã liên hệ với Nguyễn Việt B mua ma túy nhằm mục đích sử dụng, tại thời điểm bắt quả tang D chưa mua được ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Mai Đại T khi bị cáo B nhắn tin rủ đi bán ma túy thì D đồng ý, sau đó D và B thống nhất khi nào có người gọi đến thì D sẽ đi bán ma túy cùng B, tuy nhiên sau đó D rủ B đi uống cà phê và nhận đèn LED. Tại quán cà phê bị cáo B liên lạc với và tự mình thực hiện giao dịch bán ma túy cho Nguyễn Khắc D, việc này D không biết. Do đó không có căn cứ để xử lý Mai Đại T.
Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, T diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của những người làm chứng cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Vào hồi 11 giờ 20 phút ngày 20/8/2020, tại khu vực thôn 3, xã N, huyện Đ, Nguyễn Việt B có hành vi bán trái phép chất ma túy là chất methamphetamine, có tổng khối lượng 1.8008g gam cho Nguyễn Khắc D với số tiền 5.800.000 đồng thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R’Lấp bắt quả tang thu giữ số ma túy trên cùng tang vật có liên quan.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Việt B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
. Xét hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phải biết được việc mua bán và sử dụng trái phép chất ma tuý là xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ra những hệ lụy xấu ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe con người, là tiền đề cho những tệ nạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội. Do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã bán ma túy cho các con nghiện khác để kiếm lời. Do đó, HĐXX xét cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo được mục đích của hình phạt.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Việt B có 01 tiền án về về tội “Cố ý gây thương tích”, tại bản án số 87/2010/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La hiện chưa được xóa án tích, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình vẫn cố ý thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Khắc D, do đó thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 1.5821gam methamphetamine hoàn lại sau giám định 01vỏ bao thuốc lá màu trắng đen xanh hiệu Hòa Bình. 01 cân tiểu ly điện tử màu trắng, kích thước (11 x 06) cm; 05 đoạn ống thủy tinh, kích thước (0,3 x 18) cm; 03 đoạn ống thủy tinh, một đầu được uốn cong, đoạn cuối của đầu uốn cong có hình bầu dục (nỏ); 04 gói nilon trong suốt, kích thước (1,7 x 2,6) cm, phần miệng mỗi gói đều có khóa bấm màu trắng, cạnh khóa bấm có một đường kẻ ngang màu xanh; 08 quẹt gas có các màu sắc khác nhau.
Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số: 28 ngày 28/8/2020; số 33 ngày 28/8/2020 và Quyết định xử lý vật chứng số: 03 ngày 05/01/2021 của Cơ quan CSĐT công an huyện Đăk R’Lấp:
Trả lại điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu trắng, số IMEI: 354787063908358 và số tiền 6.000.000 đồng là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Khắc D không liên quan đến hành vi phạm tội là phù hợp không đề cập
Trả lại bà Chung Thị Mai T 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha, màu đen-bạc, mang BKS: 88S7-8415, số khung: B9508Y014502, số máy: 5B95014502, là tài sản thuộc quản lý hợp pháp của bà Trinh là phù hợp không đề cập
Trả lại cho Mai Đại T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 569499082565038, là tài sản của Mai Đại T không liên quan đến hành vi phạm tội là phù hợp.
Đối với việc Nguyễn Việt B khai nguồn gốc số ma túy là của Đặng Thị Thu Th, sinh năm 1988, trú tại: Thôn 1, xã Quảng T, huyện T, Th đưa cho B bán để trừ nợ số tiền mua ma túy của Th để sử dụng. Tuy nhiên quá trình điều tra không có cơ sở để xác định số ma túy trên là của Th nên không có căn cứ xử lý Th là phù hợp nên không xem xét.
Đối với Nguyễn Khắc D, đã liên hệ với Nguyễn Việt B mua ma túy nhằm mục đích sử dụng, tại thời điểm bắt quả tang D chưa mua được ma túy nên không có căn cứ xử lý là phù hợp không đề cập.
Đối với Mai Đại T khi bị cáo B nhắn tin rủ đi bán ma túy thì D đồng ý, sau đó D và B thống nhất khi nào có người gọi đến thì D sẽ đi bán ma túy cùng B, tuy nhiên sau đó D rủ B đi uống cà phê và nhận đèn LED. Tại quán cà phê bị cáo B liên lạc với và tự mình thực hiện giao dịch bán ma túy cho Nguyễn Khắc D, việc này D không biết. Do đó không có căn cứ để xử lý Mai Đại T đồng phạm với Nguyễn Việt B về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ và đúng pháp luật cần chấp nhận.
. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự. .
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/8/2020.
[2]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 1.5821gam methamphetamine hoàn lại sau giám định ; 01vỏ bao thuốc lá màu trắng đen xanh hiệu Hòa Bình. 01 cân tiểu ly điện tử màu trắng, kích thước (11 x 06) cm; 05 đoạn ống thủy tinh, kích thước (0,3 x 18) cm; 03 đoạn ống thủy tinh, một đầu được uốn cong, đoạn cuối của đầu uốn cong có hình bầu dục (nỏ); 04 gói nilon trong suốt, kích thước (1,7 x 2,6) cm, phần miệng mỗi gói đều có khóa bấm màu trắng, cạnh khóa bấm có một đường kẻ ngang màu xanh; 08 quẹt gas có các màu sắc khác nhau.
(Có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk R’Lấp).
[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án đối với phần liên quan trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án đối với phần liên quan trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Nông;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Đắk Nông;
- Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông;
- Phòng lưu trữ hình sự Công an tỉnh Đắk Nông;
- VKSND huyện Đắk R’Lấp;
- Chi cục THADS huyện Đắk R’Lấp;
- Công an huyện Đắk R’Lấp;
- Bị cáo;
- Lưu HS, VP.
Đỗ Văn Thành
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC THÀNH VIÊN
T.P CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng lưu trữ hình sự Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk R’Lấp; - Chi cục THADS huyện Đắk R’Lấp; - Công an huyện Đắk R’Lấp; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Văn Thành |