- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/HS-ST Ngày 19-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung.
Các Hội Thẩm nhân dân: 1. Ông Kiên Ngọc Minh.
2. Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Ươn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2021/HSST, ngày 25 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn U, sinh năm 1980 tại tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1919 (đã chết) và bà Vỏ Thị A, sinh năm 1927 (đã chết). Anh chị em ruột: có 07 người, lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất sinh năm 1985. Vợ tên Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1992. Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án: không.
Tiền sự: 01. Vào ngày 20/01/2020 bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện Càng Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng về hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép (đá gà được thua bằng tiền), đã đóng phạt ngày 02/6/2020.
Bị cáo được tại ngoại điều tra; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp R2, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2. Ông Nguyễn Hồng K, sinh năm 1974; Có mặt.
3. Ông Bùi Thanh P, sinh năm 1976. Có mặt.
Cùng cư trú: ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người làm chứng:
1. Ông Bùi Thanh T1, sinh năm 1973. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2. Ông Phan Mộng H, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: không có.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 26/6/2020, bị cáo Nguyễn Văn U đến nhà của Nguyễn Hồng K. Tại đây, bị cáo U gặp K với Nguyễn Văn T và Bùi Thanh P. K đi mua một bộ bài tây loại 52 lá và rủ T, P, bị cáo U chơi đánh bài được thua bằng tiền thì T, P và bị cáo U đồng ý. K, P, T và bị cáo U đánh bài tiến lên lộn xộn, gồm 04 tụ, mỗi tụ 13 lá, hình thức thắng thua như sau: tụ bài tới nhất thắng tiền tụ bài thua thứ tư số tiền 10.000 đồng, tụ bài tới nhì thắng tiền tụ bài thua thứ ba số tiền 5.000 đồng. Vị trí ngồi chơi đánh bài là tại hành lang trước cửa nhà của Nguyễn Hồng K. Các đối tượng để tiền trên nền gạch và trong người để chung chi sau khi ván bài kết thúc. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, trong lúc K, T, P và bị cáo U đang chơi ván bài chưa phân thắng thua thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện lập biên bản ghi nhận sự việc quả tang.
Qua xác minh đối với bị cáo Nguyễn Văn U có 01 tiền sự về hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép. Cụ thể ngày 07/01/2020, tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép tại ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Ngày 20/01/2020 bị Ủy ban nhân dân huyện Càng Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng (đã đóng phạt ngày 02/6/2020).
Tang vật thu giữ tại chiếu bạc gồm: 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 20.000 đồng. Trong quá trình điều tra Cơ quan Công an tạm giữ của các đối tượng: bị cáo Nguyễn Văn U 01 điện thoại di động hiệu Titel; Nguyễn Văn T tiền Việt Nam 65.000 đồng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 84L1-176.53; Bùi Thanh P tiền Việt Nam 5.000 đồng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 84L1-020.63; Nguyễn Hồng K tiền Việt Nam 110.000 đồng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 84B1-009.40.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tịch thu của Nguyễn Văn T 65.000 đồng, Bùi Thanh P 5.000 đồng, Nguyễn Hồng K 10.000 đồng. Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 84B1-009.40 của Nguyễn Hồng K, Công an huyện Càng Long đã tạm giữ để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với Nguyễn Văn T và Bùi Thanh P đã chấp hành nộp phạt, Công an huyện Càng Long đã trả 01 xe mô tô biển kiểm soát 84L1-176.53 cho Tiến và 01 xe mô tô biển kiểm soát 84L1-020.63 cho P.
Vật chứng còn lại: 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 120.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Titel bàn phím màu đen đã qua sử dụng liên quan đến vụ án.
Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKS-HS, ngày 24/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Nguyễn Văn U tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn U thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là hoàn toàn đúng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như sau: “Vào khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 26/6/2020, tại nhà của Nguyễn Hồng K, bị cáo đánh bạc được thua bằng tiền với Nguyễn Hồng K, Nguyễn Văn T và Bùi Thanh P, khi đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị Công an xã Nhị Long kiểm tra phát hiện và lập biên bản. Trước đây, vào ngày 20/01/2020, bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện Càng Long xử phạt hành chính 7.500.000 đồng về hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép”.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, vị còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và người có quyền lợi - nghĩa vụ liên có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo xin được đóng phạt nhiều lần.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn U tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng với các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác do cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long thu thập có được trong hồ sơ vụ án.
Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Nguyễn Văn U về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng qui định pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, việc chơi đánh bạc được thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc trái với quy định của pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý của Nhà nước và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Pháp luật nhà nước ta nghiêm cấm đánh bạc trái phép, ăn thua bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào nhằm thu lợi bất chính. Việc chơi đánh bạc được thua bằng tiền không cần phải tốn nhiều công sức nhưng vẫn thu lợi nhuận cao nên bị cáo bất chấp pháp luật dùng mọi thủ đoạn nhằm qua mặt chính quyền địa phương và các Cơ quan bảo vệ pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.
Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng do bản tính xem thường pháp luật nên bị cáo bất chấp vi phạm. Trước đó, bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện Càng Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép. Đáng lẽ khi bị phạt thì bị cáo phải biết sửa chữa lỗi lầm của mình để trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo không làm được việc này và tiếp tục vi phạm. Đối với lần vi phạm này mặc dù số tiền phạm tội chỉ có 100.000 đồng nhưng do bị cáo đã bị xử phạt hành chính mà tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, lẽ ra bị cáo phải biết chọn cho mình một nghề nghiệp chính đáng để có thu nhập nuôi sống bản thân và giúp ích cho gia đình, nhưng với bản tính đỏ, đen và hám lợi đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.
Nhằm để góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt hình sự bị cáo Nguyễn Văn U là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử cũng cần xem xét những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thân nhân là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo Nguyễn Văn U có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng và có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần phải bắt bị cáo Nguyễn Văn U chấp hành hình phạt tù mà phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn U cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Hồng K và ông Bùi Thanh P không cấu thành tội phạm nên không xử lý.
Đối với ông Bùi Thanh T1 và ông Phan Mộng H có mặt tại nhà ông Nguyễn Hồng Khanh nhưng không tham gia đánh bạc nên không có cơ sở để xử lý.
Về vật chứng:
- 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng, tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Tiền Việt Nam 120.000 đồng. Trong đó 20.000 đồng liên quan đến hành vi đánh bạc, tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 100.000 đồng của ông Nguyễn Hồng K không liên quan đến hành vi đánh bạc, tuyên trả lại cho ông K.
- 01 điện thoại di động hiệu Titel, loại bàn phím, màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn U không liên quan đến hành vi đánh bạc, tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn U.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn U có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 327, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
[1] Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
[2] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
* Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng.
* Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
- Tiền Việt Nam 20.000 đồng.
* Tuyên trả:
- 01 điện thoại di động hiệu Titel, loại bàn phím, màu đen, đã qua sử dụng cho bị cáo Nguyễn Văn U.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long tiếp tục quản lý tài sản trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Tiền Việt Nam 100.000 đồng cho ông Nguyễn Hồng K.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn U có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày án sơ thẩm đã tuyên. Đối với người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện, tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - Công an huyện; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Kim Nhung |