vanban.org

Bản án 13/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 21/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo TRẦN VĂN T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“

Xử phạt bị cáo TRẦN VĂN T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/9/2020. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật mang tên TRẦN VĂN T do Phòng KTHS - Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HSST Trần Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo TRẦN VĂN T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HS-ST
Ngày 21 tháng 01 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình; Ông Nguyễn Xuân Thuật.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 01 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

1. TRẦN VĂN T, sinh 1982 tại TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm X, xã Y, TP HB, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quyết T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); Vợ: Lê Thị T, sinh năm 1982 và có 01 con, sinh năm 2004; Tiền sự: Không.Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố Hà Nội từ ngày 19/9/2020 đến nay.

(Bị cáo T có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 19 giờ ngày 19/9/2020, tổ công tác Công an xã Minh Quang – Công an huyện Ba Vì phát hiện thấy 02 đối tượng nghi vấn. Khi tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính thì 01 đối tượng đã bỏ trốn. Kiểm tra đối tượng còn lại thì phát hiện thấy trong túi quần dài phía trước bên phải có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng có chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 cục bột màu hồng. Tổ công tác công an xã Minh Quang đã T hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì, TRẦN VĂN T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Ngày 19/9/2020 khi T đang ở lán công trường dưới gầm cầu Cứng thuộc phường Đồng T - Hòa Bình thì có một người đàn ông tên Đ khoảng 38 tuổi ở Quốc Oai - Hà Nội (T biết người này do khoảng 02 tháng trước đó có đi làm cùng nhau) đến gặp và rủ T đi Minh Quang để ăn cưới cùng với Đ. T và Đ đi bộ lên đê Đà Giang thuộc phường Đồng T - Hòa Bình để tìm mua ma túy cùng sử dụng. Khi đến đê Đà Giang thì T đứng chờ ở đê, còn Đ đi vào đường ngõ gần đó, khoảng 05 phút sau Đ đi ra và nói với T “mua được ma túy của một người tên C rồi”. Sau khi mua được ma túy thì cả hai đi xuống dưới đê và cùng nhau sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy Đ và T đi bộ ra bến xe để bắt xe khách, trên đường đi Đ có đưa chưa T 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và nói “Mày cất bao thuốc đi không ướt hết thuốc” nên T đã cầm và cất bao thuốc lá đó vào trong túi quần đang mặc. Trên đường đi Đ có nói với T “Vẫn còn một ít ma túy đấy, lúc nào ăn cưới xong thì chơi nốt để về”. Khi cả hai đi đến ngã tư thôn Lặt – Minh Quang thì xuống xe và đứng đợi người nhà của Đ ra đón. Đúng lúc này T bị tổ công tác Công an xã Minh Quang phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Ngày 19/9/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì ra Quyết định trưng cầu giám định số 254 đối với 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa bột màu trắng và 01 cục màu hồng thu giữ của T.

Tại bản Kết luận giám định số 8442 ngày 26/9/2020 của Phòng KTHS – Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

- 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng chứa 01 gói giấy màu trắng bên trong có:

+ Chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,186 gam

+ 01 cục bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,031 gam./.

Đối với người đàn ông tên Đ là người đã đưa ma túy cho T (theo lời khai của T): T không biết cụ thể về họ tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với người đàn ông tên C: Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã xác minh tại phường Đồng T - Hòa Bình nhưng không có ai tên C khoảng 40 tuổi như T đã khai.

Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 25/12/2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã truy tố các bị cáo TRẦN VĂN T về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Đ diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo TRẦN VĂN T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong tang vật.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Ngày 19/9/2020, T cùng Đạt mua ma túy sử dụng, sau khi sử dụng tại Hòa Bình số ma túy còn lại T đã cầm theo người đi về Minh Quang, Ba Vì thì bị tổ công tác Công an xã Minh Quang – Công an huyện Ba Vì phát hiện thu giữ tại túi quần 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng có chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 cục bột màu hồng là ma túy. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết luận giám định “Chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,186 gam; 01 cục bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,031 gam”. Như vậy có đầy đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cả, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Tính chất mức độ, nhân thân, hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác nên cần phải có hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu nên giảm nhẹ một phần hình phạt.

Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong tang vật mang tên TRẦN VĂN T do Phòng KTHS - Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 BLHS. Điều 106, 331, 333 BLTTHS. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử :

1. Tuyên bố bị cáo TRẦN VĂN T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“

2. Xử phạt bị cáo TRẦN VĂN T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/9/2020.

3. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật mang tên TRẦN VĂN T do Phòng KTHS - Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định

(Theobiên bản giao nhận vật chứng ngày 13 /01/2021 Công an huyện Ba Vì nộp vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, Hà Nội).

4. Buộc bị cáo TRẦN VĂN T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hà Nội;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện KSND H. Ba Vì;

- Chi cục THADS H. Ba Vì;

- Công an huyện Ba Vì;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu HS, VP.

Hoàng Trọng Đức

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Trọng Đức Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hà Nội;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện KSND H. Ba Vì;

- Chi cục THADS H. Ba Vì;

- Công an huyện Ba Vì;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu HS, VP.

Hoàng Trọng Đức

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Trọng Đức

Cỡ chữ