vanban.org

Bản án 13/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 29/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Bàn Thị K 06 (sáu) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Bàn Thị K cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Thị K - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Bàn Thị K 06 (sáu) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HS-PT
Ngày 29-4-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương.

Các Thẩm phán: Ông Ma Hồng Thắng và ông Nguyễn Đức Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 14/2021/TLPT-HS ngày 30 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Bàn Thị K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2021/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo có kháng cáo:

Bàn Thị K (tên gọi khác: Không) sinh ngày 14/6/1989 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn Xuân Đức, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Bàn Văn T, sinh năm 1968 và con bà: Tướng Thị S, sinh năm 1969. Chồng: Đặng Văn T, sinh năm 1983 (đã chết). Con: Có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/4/2020, Lý Văn T, sinh năm 1978, ăn cơm tại nhà Đặng Xuân T, sinh năm 1962, trú tại thôn Đèo Tế, xã H, huyện H, trong lúc ăn cơm T rủ T1 đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng, T1 đồng ý; Lý Văn T tiếp tục gọi điện thoại cho Đặng Văn Y (bố Ngh), sinh năm 1972, trú tại thôn Đèo Tế, xã H, huyện H và hỏi bằng tiếng dân tộc dao, dịch nguyên văn“Anh Nghi à, cho em mượn nhà chơi một tý” Đặng Văn Y hiểu ý T hỏi mượn nhà mình để đánh bạc và sẽ được T cho tiền nên đã trả lời “Chúng mày đánh thì đánh không được cãi nhau, nếu bị bắt thì tao không biết”, T nói “Nếu bị bắt bọn em tự chịu, có người canh gác hết rồi” mục đích để Đặng Văn Y yên tâm cho T mượn nhà để T tổ chức đánh bạc.

Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày trên đường từ nhà T1 đến nhà Đặng Văn Y, khi đi qua nhà Tướng Văn T2, thấy có nhiều người ở đó T dừng lại và nói to “Ai đánh bạc thì đến nhà bố Ngh”, nói xong T cùng T1 tiếp tục đi đến nhà Đặng Văn Y. Khi đến nhà Y, T tự trải 03 chiếc chiếu nhựa xuống sàn nhà rồi ngồi đợi mọi người đến đánh bạc, sau đó có Hoàng Văn T, sinh năm 1990, trú tại thôn Cây Quéo, xã H, huyện H; Bàn Văn S, sinh năm 1988, trú tại thôn Cây Nhãn, xã T, huyện Y; Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975, Lý Thị H, sinh năm 1981, Tướng Văn T2, sinh năm 1980, Tướng Thị S, sinh năm 1975, Đặng Thị H, sinh năm 1984, Trần Văn P, sinh năm 1988 cùng trú tại thôn Đèo Tế, xã H, huyện H; Tướng Văn K, sinh năm 1977, Bàn Thị H, sinh năm 1968, Lê Thị H, sinh năm 1989, Lê Thị N, sinh năm 1981, Bàn Thị K, sinh năm 1989 cùng trú tại thôn Xuân Đức, xã H, huyện H; Triệu Văn T, sinh năm 1966, trú tại thôn Cầu Trôi, xã T, huyện Y cùng đến để tham gia đánh bạc. Trước khi đánh bạc, Đặng Xuân T trực tiếp cắt 04 quân bạc bằng tre, lấy 01 bát, 01 đĩa tại gian nhà bếp của gia đình Đặng Văn Y để làm dụng cụ đánh bạc, khi đã có dụng cụ đánh bạc Lý Văn T bảo Hoàng Văn T “xóc cái”, để những người còn lại đánh bạc cá cược theo cửa “chẵn” và cửa “lẻ”. Khi canh bạc đánh được 3 ván, T trực tiếp thu “tiền phế” của những người tham gia đánh bạc và làm “hồ lỳ” khi mọi người đánh bạc (số tiền phế thu được T sẽ dùng để trả tiền mượn nhà cho Đặng Văn Y và để chi tiêu cá nhân). Cách đánh bạc là dùng bốn quân bạc được làm bằng thanh tre kích thước khoảng 01 x 01 cm một mặt được bôi đen, một mặt giữ nguyên màu trắng của que tre để vào đĩa, dùng bát úp lên và xóc nhiều lần để những người tham gia đánh bạc đoán chẵn, lẻ. Những người trên đang đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày thì tổ công tác Cảnh sát điều tra Công an huyện H đến kiểm tra. Khi phát hiện thấy có Công an đến bắt bạc, Lý Văn T yêu cầu mọi người rời khỏi nhà Đặng Văn Yên, lúc đó T chưa kịp đưa tiền mượn nhà để tổ chức đánh bạc cho chủ nhà Đặng Văn Y; Triệu Văn T cầm 04 quân bài tú lơ khơ làm “bảng vị” ném vào bếp củi đang cháy; Hoàng Văn T cất dụng cụ đánh bạc 01 bát, 01 đĩa vào gian bếp nhà Y và ném 04 quân bạc bằng tre vào bếp củi đang cháy, sau đó cùng nhau rời khỏi nhà Đặng Văn Y.

Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng khác khai nhận dùng vào việc đánh bạc được xác định là 5.070.000đồng (Năm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng). Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng khác sử dụng vào việc đánh bạc được xác định là 12.590.000đồng (Mười hai triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng). Trong đó, bị cáo Bàn Thị K dùng 80.000đồng tham gia cá cược nhiều ván bị thua hết số tiền trên, sau khi khởi tố vụ án bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 321 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Bàn Thị K phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bàn Thị K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Phạt tiền: 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 25 tháng 02 năm 2021 Tòa án nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Bàn Thị K với nội dung xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo không giam giữ.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Bàn Thị K 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết mới: Đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương, Biên lai nộp tiền phạt, tiền án phí hình sự sơ thẩm số tiền 10.200.000 đồng, tại biên lai thu tiền số 0002291 ngày 15/4/2021 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Bố bị cáo có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, chồng bị cáo được tặng Giấy khen... Do vậy, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn chồng chết một mình nuôi con nhỏ và bố mẹ già yếu, bị cáo có số tiền tham gia đánh bạc ít (80.000 đồng), bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi bị truy nã bị cáo ra đầu thú và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội xử bị cáo mức án cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bàn Thị K, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bàn Thị K 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và Quyết định thi hành án.

Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và làm nghề làm ruộng không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo.

Ghi nhận bị cáo đã nộp xong khoản tiền phạt và tiền án phí Hình sự sơ thẩm số tiền là 10.200.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0002291 ngày 15/4/2021 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận.

Khi được Hội đồng xét xử cho phép nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án Cải tạo không giam giữ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Khoa có 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) tham gia đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” trong tổng số tiền bị cáo và các đối tượng khác khai nhận sử dụng vào việc đánh bạc được xác định là 5.070.000đồng (Năm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng). Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 00 phút đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13/4/2020, tại nhà ở của gia đình Đặng Văn Y, thôn Đèo Tế, xã H, huyện H, Bàn Thị K đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng cùng các đối tượng khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây sự bất bình trong quần chúng nhân dân, sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn. Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có số tiền tham gia đánh bạc ít 80.000 đồng; bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, do đó nhận thức pháp luật còn hạn chế; sau khi bị truy nã bị cáo đã ra đầu thú. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu mới: Đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương, Biên lai nộp tiền phạt, tiền án phí số tiền 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0002291 ngày 15/4/2021 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Bố bị cáo có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, chồng bị cáo được tặng Giấy khen, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, do vậy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội xử bị cáo mức án Cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và nghề nghiệp làm ruộng không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

Ghi nhận bị cáo đã nộp xong khoản tiền phạt và tiền án phí Hình sự sơ thẩm số tiền là 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0002291 ngày 15/4/2021 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bàn Thị K, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt như sau:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bàn Thị K 06 (sáu) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Bàn Thị K cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

Miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

Ghi nhận bị cáo đã nộp xong khoản tiền phạt và tiền án phí Hình sự sơ thẩm số tiền là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0002291 ngày 15/4/2021 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo Bàn Thị K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/4/2021)./.

Cỡ chữ