vanban.org

Bản án 13/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phạm Thiên T về việc yêu cầu ông Phan Minh T1 cấp dưỡng nuôi con 5.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Phạm Thiên T về việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Phan Minh T1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Phạm Thiên T được ly hôn với ông Phan Minh T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Nguyễn Phạm Thiên T - Phan Minh T1"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phạm Thiên T về việc yêu cầu ông Phan Minh T1 cấp dưỡng nuôi con 5.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 17-3-2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quang Xẹt;

2. Ông Lê Bá Quyền.

- Thư"ký"Tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"thị"xã"Tân"Uyên"tham"gia"phiên"tòa: Bồ Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 401/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa 07/2021/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phạm Thiên T, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ 4, khu phố 2, thị trấn D, huyện C, tỉnh T; Có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phan Minh T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ DP 1, khu phố K, phường T, thị xã U, tỉnh B; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại"đơn"khởi"kiện"ngày"04"tháng"11"năm"2020;"các"lời"khai"trong"quá" trình"giải"quyết"vụ"án,"nguyên"đơn"–"bà"Nguyễn"Phạm"Thiên"T"trình"bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tự nguyện tìm hiểu được 05 năm và chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114 ngày 05/9/2019 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2020, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, không có sự tôn trọng lẫn nhau, ông T1 thường xuyên đánh bạc, không phụ giúp gia đình. Bà T nhiều lần khuyên ông T1 nhưng ông T1 vẫn không thay đổi. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó, bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T1.

+ Về con chung: Có hai con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 06-12-2018 và Phan B Châu, sinh ngày 02-02-2020. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung và yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 17-3-2021, bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi hai con chung 5.000.000 đồng/tháng.

Ông Phan Minh T1 đã được tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông T1 không tham gia trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Thiên T, cụ thể như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Nguyễn Thiên T được ly hôn với ông Phan Minh T1.

+ Về con chung: Có hai con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 06-12-2018 và Phan B Châu, sinh ngày 02-02-2020 đều dưới 36 tháng tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà Nguyễn Phạm Thiên T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

+ Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu cấp dưỡng nuôi của nguyên đơn.

+ Vấn đề tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về sự vắng mặt của bị đơn - ông Phan Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng ông Hoàng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Phạm Thiên T và ông Phan Minh T1 chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114 ngày 05/9/2019 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 do bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T1 tham gia tố tụng nhưng ông T1 không tham gia và không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T, chứng tỏ, ông T1 không còn quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng cũng như gìn giữ hạnh phúc gia đình. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn có căn cứ, phù hợp quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Xét thấy, hai con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 06-12-2018 và Phan B Châu, sinh ngày 02-02-2020 đều dưới 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc của mẹ, do đó, việc bà T yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Ngày 17-3-2021, bà T nộp đơn rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Phạm Thiên T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 92, điểm c Khoản 1 Điều 217, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 17, 19, 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phạm Thiên T về việc yêu cầu ông Phan Minh T1 cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Phạm Thiên T về việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Phan Minh T1.

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Phạm Thiên T được ly hôn với ông Phan Minh T1.

2.2. Về con chung: Giao hai con chung tên Phan Thiên B, sinh ngày 06-12-2018 và Phan B Châu, sinh ngày 02-02-2020 cho bà Nguyễn Phạm Thiên T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Bà Nguyễn Phạm Thiên T và ông Phan Minh T1 đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

2.3. Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Phạm Thiên T phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0051930 ngày 11-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Nơi"nhận:

Cỡ chữ