- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm T xử cho chị T và anh Trần Quốc K được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TÂY NINH Bản án số: 13/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05.03.2021 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Liễu
2. Bà Huỳnh Thị Kim Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang -Thư ký Tòa án nhân dân Thành Phố Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành Phố Tây Ninh tham gia phiên toà:Bà Dương Thị Tiểu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 565/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2020, về việc “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp V, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Quốc K, sinh năm1994; địa chỉ: khu phố L, phường N, thành TN, tỉnh Tây Ninh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T đã trình bày:
Chị và anh K chung sống với nhau vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh. Anh chị sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân: Do chị phát hiện anh K nhiều lần sử dụng ma túy, anh K thường xuyên đánh đập bóp cổ đe dọa tính mạng chị. Nay chị xin ly hôn.
Về con chung: Chưa có.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có
Anh Trần Quốc K trình bày tại biên bản ngày 28.12.2020: Anh và chị T chung sống với nhau vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh. Anh chị sống chung không hạnh phúc thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nay chị T xin ly hôn anh đồng ý ly hôn. Hiện anh đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công An tỉnh Tây Ninh, anh không đến Tòa án dự phiên hòa giải, xét xử. Anh xin vắng mặt.
Con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa đại diện VKSND thành phố Tây Ninh trình bày việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và HĐXX: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ một cách khách quan, cụ thể, rõ ràng, chuyển hồ sơ và các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát đúng thời gian quy định; Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm T xử cho chị T và anh K được ly hôn. Về con chung: Chưa có. Tài sản chung,nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Trần Quốc K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự,Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh K.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Trần Quốc K chung sống với nhau vào năm 2019 có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét về mâu thuẫn: Chị T và anh K xác định từ ngày về chung sống với nhau không hạnh phúc thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T xử cho chị T và anh K được ly hôn.
- Về con chung: Chưa có
- Về tài sản chung; nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm T xử cho chị T và anh Trần Quốc K được ly hôn.
2. Về con chung: Chưa có
3. Về tài sản chung; nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm; nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000824 ngày 06 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành Phố Tây Ninh. Chị T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Tây Ninh
- THADS TP;
( Đã ký)
- VKSND Tp;
- Các đương sự;
Nguyễn Thị Minh Bình
- Lưu HS,TA.
- UBND phường N.
Hội thầm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Trần Phúc Hoàng Đình Ngân
Nguyễn Thị Minh Bình ` HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hà- Nguyễn Thị Thu Ba
Nguyễn Thị Minh Bình
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tây Ninh; -THADS huyện Châu Thành; -VKSND huyện Châu Thành -Các đương sự; -Lưu HS,TA. |