vanban.org

Bản án 13/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị Ng và anh Vũ Văn T.

2- Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Minh Tâm sinh ngày 25/8/2016 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Vũ Thị Minh Tâm đang do anh Vũ Văn T chăm sóc nuôi dưỡng). Chị Đinh Thị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Vũ Văn T đối với cháu Vũ Thị Minh Tâm. Không ai được ngăn cản quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyệt xin ly hôn anh Tiến"
  • Tòa quyết gì? 1- Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị Ng và anh Vũ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N, TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 01 - 2021
V/v chị Ng xin ly hôn anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Đức Khang

2. Ông Lê Văn Chỉnh

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020. Về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Ng - Sinh năm 1994 Địa chỉ: Xóm 1, xã N, huyện N, tỉnh N.

+ Bị đơn: Anh Vũ Văn T - Sinh năm 1992 Địa chỉ: Xóm 1, xã N, huyện N, tỉnh N.

Tại phiên tòa vắng mặt chị Ng và anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 01/10/2020 cũng như lời khai chị Đinh Thị Ng trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Văn T vào tháng 5/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N. Sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2017 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có Tg nói chung trong hôn nhân. Từ tháng 4/2018 đến nay chị và anh T sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên chị xin được ly hôn anh Vũ Văn T. Về con chung giữa chị anh Vũ Văn T có một con chung là Vũ Thị Minh Tâm sinh ngày 25/8/2016. Hiện cháu Tâm đang do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tâm và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 2.000.000 đồng, nhưng phía anh T cũng có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tâm và không yêu cầu chị phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T nên chị nhất trí. Về tài sản chung giữa chị và anh Vũ Văn T thì chị không yêu cầu giải quyết. Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Do điều kiện công việc bận chị không tham gia phiên tòa được nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.

Tại phiên toà hôm nay anh Vũ Văn T vắng mặt, nhưng có lời khai của bà Vũ Thị Xuyến là mẹ đẻ của anh T trong quá trình giải quyết trình bày đúng như lời khai của chị Đinh Thị Ng về quá trình kết hôn, sống chung giữa anh T và chị Ng. Sau khi kết hôn, chị Ng và anh T chung sống hòa thuận đến năm 2017 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trong và từ tháng 4/2018 đến nay chị Ng và anh T sống ly thân nhau. Nay chị Ng xin ly hôn anh T và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giao các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T vắng mặt nên bà nhận thay và bà đã giao lại anh T đẩy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án. Anh T có ý kiến với bà để bà trình bày với Tòa án là chị Ng xin ly hôn anh T thì anh T không nhất trí, còn chị Ng muốn ly hôn thì tùy chị Ng. Về con chung giữa anh T và chị Ng có một con chung là Vũ Thị Minh Tâm sinh ngày 25/8/2016. Hiện cháu Tâm đang do anh T chăm sóc nuôi dưỡng. Nếu phải ly hôn thì anh T xin nhận trực tiếp nuôi cháu Tâm và không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T. Về tài sản chung, anh T không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng, qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: xử ly hôn giữa chị Đinh Thị Ng và anh Vũ Văn T. Về con chung: giao cháu Vũ Thị Minh Tâm sinh ngày 25/8/2016 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Đinh Thị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Vũ Văn T. Về án phí dân sự sơ thẩm, đề nghị giải quyết chị Ng phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Đinh Thị Ng và anh Vũ Văn T đều cư trú tại xã N, huyện N, tỉnh N. Nay chị Ng xin ly hôn anh T và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa anh Vũ Văn T vắng mặt nhưng anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai, vì vậy Tòa án T hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Đinh Thị Ng và anh Vũ Văn T được tổ chức kết hôn vào tháng 5/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Điền, là một hôn nhân tự do, T bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, chị Ng và anh T chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2017 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau, không có Tg nói chung trong hôn nhân. Từ tháng 4/2018 đến nay chị Ng và anh T sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ng và anh T đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị Ng xin được ly hôn anh T nên chấp nhận là phù hợp. Xét việc anh T không nhất trí ly hôn nhưng lại đề nghị tùy chị Ng quyết định, thấy yêu cầu xin đoàn tụ của anh T không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Về con chung: Chị Đinh Thị Ng và anh Vũ Văn T có một con chung là Vũ Thị Minh Tâm sinh ngày 25/8/2016, hiện cháu Vũ Thị Minh Tâm đang do anh Vũ Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay Vũ Văn T xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Thị Minh Tâm và không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T và phía chị Ng cũng nhất trí nên chấp nhận là phù hợp.

Về tài sản chung: Chị Đinh Thị Ng và anh Vũ Văn T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung của anh chị nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm, chị Đinh Thị Ng phải nộp theo quy định của pháp luật.

Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng về việc xử lý vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 6; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1- Xử ly hôn giữa chị Đinh Thị Ng và anh Vũ Văn T.

2- Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Minh Tâm sinh ngày 25/8/2016 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Vũ Thị Minh Tâm đang do anh Vũ Văn T chăm sóc nuôi dưỡng). Chị Đinh Thị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Vũ Văn T đối với cháu Vũ Thị Minh Tâm. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3- Về án phí dân sự sơ thẩm, chị Đinh Thị Ng phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Đinh Thị Ng đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0001760 ngày 08/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng. Chị Đinh Thị Ng đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Ng và anh T. Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ