vanban.org

Bản án 13/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn U được ly hôn

Về con chung: Giao cháu chung cháu Trần Đăng N, sinh ngày 19 tháng 2 năm 2003 và cháu Trần Việt H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2006 cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và tự lập được cuộc sống. Anh Trần Văn U không có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T - Trần Văn U"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn U được ly hôn
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 23/04/2021
Về việc: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán: - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Đức Bính.

Ôngng Vũ Xuân Dự.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà, là thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Ninh Trọng Khánh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 04 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2021/TLST – HNGĐ ngày 19 tháng 1 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 15 tháng 03 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 09/2021/ QĐST – HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T – sinh năm 1984; vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT và trú tại: Xóm 5, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Trần Văn U – sinh năm 1976; vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT và trú tại: Xóm 7, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Chị T có đơn xin xét xử vắng măt, anh U vắng mặt lần 2 không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Trần Văn U kết hôn hợp pháp với nhau đăng ký kết hôn ngày 02 tháng 01 năm 2002 tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống cùng gia đình anh U tại xóm 7, xã H được khoảng 2, 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhận vợ chồng mâu thuẫn do anh U chơi bời và nghiện hút. Chị và gia đình đã nhiều lần phân tích khuyên bảo anh U từ bỏ nhưng anh U không nghe mà còn thường xuyên kiếm cớ xúc phạm, chửi bới chị, từ đó mâu thuẫn ngày càng nặng nề hơn. Vì con cái chị đã nhiều năm chịu đựng, nín nhịn để mong anh U thay đồi nhưng anh U không thay đổi. Do không chịu đựng được nên từ năm 2009 đến nay chị và anh U sống ly thân không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, thời gian sống ly thân quá lâu, vợ chồng không về đoàn tụ được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Văn U để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh U có một hai con chung: Cháu Trần Đăng N, sinh ngày 19 tháng 2 năm 2003 và cháu Trần Việt H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2006, thời gian vợ chồng sống ly thân cho đến nay các cháu ở cùng với chị T. Nay ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao cho chị tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cả hai cháu N và H kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên, chị không yêu cầu anh Úy có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con chúng

Về tài sản chung và công nợ : Chị và anh U không có tài sản chung và công nợ nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn trong vụ án là anh Trần Văn U hiện đang cư trú tại nhà bố mẹ đẻ anh U tại xóm 7, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện K đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho anh Trần Văn U và giao các tài liệu chứng cứ theo đề nghị của nguyên đơn, tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh U thông qua mẹ đẻ anh U là bà Vũ Thị T1. Bà T1 cam kết sẽ có trách nhiệm giao ngay tận tay các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh U. Bản thân anh U có biết việc chị T khởi kiện xin ly hôn với anh, nhưng anh U không có mặt làm việc tại Tòa án và cũng không có bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như về việc giải quyết vụ án.

Tại bản tự khai của cháu Trần Đăng N và cháu Trần Việt H thì nguyện vọng cháu muốn ở với mẹ là chị Nguyễn Thị T để ổn định việc học tập cũng như sinh hoạt của cháu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

1. Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Trong quá trình giải quyết vu ̣ án và ta ̣i phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử , Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tu ̣ng dân sự. Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vu ̣ của đương sự quy định ta ̣i Bộ luật Tố tu ̣ng dân sự . Bị đơn chấp hành và thực hiện tương đối đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy địn h ta ̣i Bộ luật Tố tu ̣ng dân sự

2. Về việc giải quyết v ụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83 của Luật Hôn nhân và Gia đình ; Điều 144 khoản 4 Điều 147 và §iÒu 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Trần Văn U.

- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung cháu Trần Đăng N, sinh ngày 19 tháng 2 năm 2003 và cháu Trần Việt H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2006 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn U không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung. anh U có quyền đi lại thăm nom con chung.

- Án phí: Chị Nguyễn Thị T nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Trần Văn U có nơi cư trú tại: Xóm 7, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện K thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1, Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn là anh Trần Văn U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của các đương sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn U có đăng ký kết hôn ngày 02 tháng 01 năm 2002 tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn U là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về sinh sống tại xóm 7, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Quá trình vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 2, đến 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do anh U thường xuyên chơi bời, nghiện hút không tu chí làm ăn. Bản thân chị đã nín nhịn nhiều lần bỏ qua cho anh U để vợ chồng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng anh U không thay đổi. Thực tế chị T và anh U đã sống ly thân nhau từ năm 2009 đến nay và cả hai không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng . Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án anh U không có văn bản ý kiến, không có bản tự khai và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa anh U vẫn vắng mặt không rõ lý do. Điều này thể hiện anh U không thiện trí trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, hôn nhân của anh chị đã rơi vào tình trạng trầm trọng.

Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H thể hiện: Chị T và anh U có quan hệ hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn anh chị về chung sống cùng bố mẹ đẻ anh U tại xóm 7, xã H, huyện K được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống. Khoảng từ năm 2009 đến nay thì chị T không ống cùng anh U và nữa mà chỉ có anh U sống cùng bố mẹ anh U ở xã H. Nay chị T xin ly hôn Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh U đã đến mức trầm trọng không thể khắc phục được, anh chị đã có sống ly thân nhau 11 năm nay và không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Chị T và anh U có hai con chung cháu Trần Đăng N, sinh ngày 19 tháng 2 năm 2003 và cháu Trần Việt H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2006. Hiện các cháu đang ở cùng với mẹ, chị T có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu, bản thân anh U không có ý kiến gì về việc giải quyết các vấn đề trong vụ án. Qua tham khảo ý kiến nguyện vọng của các cháu cả hai đều muốn ở với mẹ để ổn định việc học tập và sinh hoạt của các cháu. Xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của các con đồng thời không ảnh hưởng đến việc học tập, môi trường sống và sinh hoạt của các cháu căn cứ điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án thấy cần giao Trần Đăng N, sinh ngày 19 tháng 2 năm 2003 và cháu Trần Việt H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2006 cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế điều cũng như đảm bảo quyền lợi của các con chưa thành niên trong vụ án hôn nhân gia đình.

Vấn đề cấp dưỡng đối với các con do chị T không yêu cầu anh U phải có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con chung, chị xác định mình có đủ điều kiện về vật chất để đảm bảo cuốc sống cho các cháu. Mặt khác từ khi sống ly thân các cháu ở với chị T và chị T cũng đã đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu, nay anh chị ly hôn chị T không yêu cầu anh U cấp dưỡng là hoàn toàn tự nguyện, không ảnh hưởng đến quyền lợi mọi mặt của các con. Do vậy nay giao các con chung cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Do chị T không yêu cầu nên không buộc anh U phải có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 144. Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp , quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn U được ly hôn

2. Về con chung: Giao cháu chung cháu Trần Đăng N, sinh ngày 19 tháng 2 năm 2003 và cháu Trần Việt H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2006 cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và tự lập được cuộc sống. Anh Trần Văn U không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0002512 ngày 19 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được THADS, người phải THADS có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ