vanban.org

Bản án 13/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thùy D. Chị Lê Thùy D được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Diệp A, sinh ngày 09/9/2018 cho chị Lê Thùy D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Diệp A đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thùy D. Chị Lê Thùy D được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HNGĐ-ST
Ngày 12-4-2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hà Tuấn Vĩnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Oanh

Bà: Nguyễn Thị Lam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Mai Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thùy D, Sinh năm: 1998; dân tộc: Kinh; nơi cư trú: Phố H, thị trấn Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1992; dân tộc: Tày; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt (Lần hai, không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình Tòa án thụ lý giải quyết chị Lê Thùy D trình bày: Chị và anh Nguyễn Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn vào ngày 01/8/2017 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, anh H thường xuyên uống rượu rồi về đánh đập chị, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Năm 2018 chị đã làm đơn xin ly hôn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang giải quyết cho vợ chồng được ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang đã thụ lý vụ án, nhưng sau đó chị đã rút đơn để cho anh H cơ hội và vợ chồng đã quay về chung sống, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, nhưng sau đó mâu thuẫn vợ chồng vẫn không cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn. Mặc dù đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên giải nhưng mâu thuẫn vẫn không thay đổi, vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa, chị nhận thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nữa, có cố níu kéo cũng chỉ làm khổ nhau; vì vậy chị làm đơn này đề nghị Toà án nhân dân huyện Bắc Quang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H và chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, cả hai không quan tâm chăm sóc đến nhau nên đề nghị Tòa án không hòa giải giữa chị và anh H, chị đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có một con chung, tên cháu là Nguyễn Diệp A, sinh ngày 09/9/2018, hiện nay cháu đang ở cùng với chị D. Khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Diệp A đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H vắng mặt, anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không nộp bản tự khai và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan trong vụ án cho Tòa án, Tòa án đã niêm yết văn bản tố tụng tại chính quyền địa phương nơi anh H cư trú, Tòa án đã có biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị D cũng như việc anh H cố tình che giấu địa chỉ tại chính quyền địa phương nơi anh H cư trú và Tòa án cũng đã gửi văn bản tố tụng cho anh H nhưng anh H đã từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án và Tòa án đã thông báo cho anh H được biết việc chị D yêu cầu ly hôn anh H, bà Lâm Thị Q là mẹ đẻ anh H sống chung nhà với anh H, Tòa án đã có giấy triệu tập bà Q đến xã Kim Ngọc để xác minh về quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H, nhưng bà Q không hợp tác. Do vậy căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang vẫn tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của bị đơn về việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thùy D đối với anh Nguyễn Ngọc H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Diệp A, sinh ngày 09/9/2018 cho chị Lê Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc cho đến khi cháu Nguyễn Diệp A đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thùy D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án do chị Lê Thùy D có đơn yêu cầu ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thẩm quyền theo cấp xét xử thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H có nơi cư trú là thôn Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thẩm quyền theo lãnh thổ là Tòa án nơi bị đơn cư trú nên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang thụ lý là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Ngọc H từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án và Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án nơi anh H cư trú, nhưng anh H vẫn không có mặt. Xét thấy Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn anh Nguyễn Ngọc H vắng mặt tại phiên toà không có lý do, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Ngọc H. Nguyên đơn là chị Lê Thùy D vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Thùy D.

Về hôn nhân: Chị Lê Thùy D và anh Nguyễn Ngọc H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 01/8/2017 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang nên hôn nhân giữa chị D và anh H là hợp pháp.

Xét tình trạng hôn nhân: Quá trình chung sống chị D và anh H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, hai bên không còn có sự tôn trọng, chia sẻ, tạo điều kiện giúp đỡ nhau trong cuộc sống, trong công việc hàng ngày. Mâu thuẫn đã thường xuyên xảy ra căng thẳng mặc dù đã được Tòa án và gia đình can thiệp hòa giải nhưng vẫn không sửa chữa khắc phục, không cải thiện tốt quan hệ vợ chồng, khả năng đoàn tụ không còn, vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2018 cho đến nay. Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho anh H nhưng anh H vẫn vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu ly hôn của chị D. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo biên bản xác minh tại xã Kim Ngọc thể hiện anh H đi đâu làm gì không báo cho chính quyền địa phương nơi anh H cư trú. Hiện nay chị D và anh H sống ly thân, mỗi người sống và làm việc một nơi, không quan tâm gì đến nhau, quá trình chung sống anh chị có 01 con chung, hiện cháu đang ở cùng chị D, anh chị không tạo lập được tài sản chung. Chị D xác định không còn tình cảm với anh H, vợ chồng không hòa thuận, không thể tiếp tục chung sống với nhau, kiên quyết xin ly hôn. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị D không tạo điều kiện để tiếp tục chung sống. Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai không quan tâm, chăm sóc đến nhau. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.

Về nuôi con chung: Thời gian chung sống, vợ chồng anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Diệp A, sinh ngày 09/9/2018. Xét thấy, chị D đang trực tiếp nuôi con chung, chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung, quá trình giải quyết vụ án anh H không có mặt nên không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận giao con chung cho chị D được trực tiếp nuôi con chung, chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Nguyễn Ngọc H được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Do vậy HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thùy D phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thùy D. Chị Lê Thùy D được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Diệp A, sinh ngày 09/9/2018 cho chị Lê Thùy D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Diệp A đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung chị D, anh H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về Án phí: Chị Lê Thùy D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai số 0001315, ngày 23/12/2020.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ