- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NHLV - Lài Văn Vàng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/DS-ST Ngày 18-5-2021 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đông Hà
2. Bà Nguyễn Thị Tua
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Triệu – Kiểm sát viên.
Ngày 18/5/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2021/TLST – DS ngày 19/01/2021 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST-DS, ngày 12/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2021/QĐST-DS, ngày 28/4/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B.
Địa chỉ: số 210, đường T, phường A, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu T – Giám đốc Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hùng T1 – Chuyên viên hỗ trợ hoạt động – phòng hỗ trợ hoạt động – Chi nhánh Hậu Giang.
Địa chỉ: Số 32, N, phường 1, TP. V, tỉnh Hậu Giang.
Văn bản ủy quyền số 817/2020/QĐ-LienVietPostBank.HG ngày 21/12/2020.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Lài Văn V, sinh năm: 1957
2.2. Bà Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1962
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện Vị T, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, các bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 12 năm 2020 và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần B chi nhánh Hậu Giang đã cấp tín dụng cho ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 số tiền 35.000.000 đ theo Hợp đồng tín dụng số HDTD800201909868, ngày 14/5/2019, mục đích vay trồng lúa, nuôi heo, thời hạn vay 11 tháng, tiền lãi đã trả 4.349.454 đ, khoản vay trên đã quá hạn từ ngày 13/4/2020. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 trả số tiền 41.509.265 đ, trong đó nợ gốc 35.000.000 đ, tiền lãi trong hạn 848.861 đ, tiền lãi quá hạn 5.604.123 đ, tiền lãi chậm trả 56.281 đ, yêu cầu tiếp tục tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục tính lãi đến khi tất toán các khoản nợ.
Đối với bị đơn ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã nộp cho Tòa án Quyết định ủy quyền số 817/2020/QĐ-LienVietPostbank.HG ngày 21/12/2020; Quyết định ủy quyền số 240/2020/QĐ-HĐQT ngày 13/4/2020 (bản sao); Quyết định 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017 (bản sao); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (bản sao); Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, , Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ (bản sao), đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ (phô tô), Giấy chứng nhận QSD đất (bản sao), Bản phô tô giấy chứng minh nhân dân của ông Lài Văn V, bà Nguyễn Thị Phương T2, ông Nguyễn Hùng Trị, bản phô tô sổ hộ khẩu hộ ông Lài Văn V.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 trả số tiền tính đến ngày xét xử là 45.204.091 đ và tiếp tục tính lãi đến khi thanh toán xong các khoản nợ. Các bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên phát biểu về việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, cũng như ý thức chấp hành pháp luật của các bên đương sự là đúng pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí bị đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Đối với ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B yêu cầu ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng nên Hội đồng xét xử xác định là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy theo quy định tại Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung khởi kiện:
Căn cứ theo hợp đồng tín dụng số HDTD800201909868, ngày 14/5/2019, ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 vay của Ngân hàng số tiền gốc là 35.000.000 đ, lãi suất cho vay 16,2%/năm lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, thời hạn cho vay 11 tháng.
Trong thời gian vay phía ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 có trả lãi được 4.349.454 đ, hiện tại còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày khởi kiện là 41.509.265 đ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm nợ số tiền gốc và lãi là 45.204.901 đ, trong đó tiền gốc là 35.000.000 đ, lãi trong hạn 848.861 đ, lãi quá hạn gốc là 9.263.014 đ, lãi chậm trả lãi 93.026 đ. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc trả nợ nhưng bị đơn không thực hiện. Xét thấy ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 vi phạm nghĩa vụ tại khoản 4.1, 4.2 Điều 4 của hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử buộc ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 45.204.901 đ, trong đó tiền gốc là 35.000.000 đ, lãi trong hạn 848.861 đ, lãi quá hạn gốc là 9.263.014 đ, lãi chậm trả lãi 93.026 đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay
. Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí. Nguyên đơn được nhận tại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự còn được kháng cáo theo luật định;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, 6, 26, 35, 39, 91, 271, 273, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B. Buộc ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền 45.204.901 đ (Bốn mươi lăm triệu hai trăm lẻ bốn ngàn chín trăm lẻ một đồng), trong đó tiền gốc là 35.000.000 đ, lãi trong hạn 848.861 đ, lãi quá hạn gốc là 9.263.014 đ, lãi chậm trả lãi 93.026 đ.
Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lài Văn V và bà Nguyễn Thị Phương T2 phải nộp số tiền là 2.260.245 đồng (Hai triệu hai trăm sáu mươi ngàn hai trăm bốn mươi lăm đồng). Ngân hàng Thương mại cổ phần B được nhận lại 1.037.000 đồng (Một triệu không trăm ba mươi bảy ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008342, ngày 19 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện vị Thủy. Nhận tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - Cổng TTĐT Tòa án; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Quách Thị Mỹ Trúc |