- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Hiệp phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HSST Ngày: 16-4-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Kim Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Hồng
2. Bà Hoàng Vạn Sinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toản – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/HSST ngày 04/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 20/3/2020 và Thông báo số 07/2020/TB-TA ngày 31/3/2020 “về việc chuyển thời gian xét xử” của TAND thị xã Buôn Hồ, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Văn H, tên gọi khác: Chút, sinh ngày 09/3/1998, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Tổ dân phố 9, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Tr; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2019, ngày 21/12/2019 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Buôn Hồ, có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời làm chứng:
1. Anh Trần Văn L, sinh năm 1999, vắng mặt;
Địa chỉ: TDP 2, phường A, thị xã B, Đắk Lắk.
2. Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1999, vắng mặt;
Địa chỉ: TDP 4, phường A, thị xã B, Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn H là người nghiện ma túy. Quá trình sử dụng trái phép chất ma túy H tìm hiểu và biết được tại khu vực quận G, thành phố H có đối tượng tên “Ken” (không rõ nhân thân lai lịch) bán ma túy đá. Do đó, để có ma túy đá bán cho người khác kiếm lời và sử dụng cho bản thân, vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/12/2019, H đón xe khách đi từ thị xã B, tỉnh Đắk Lắk đến quận G, thành phố H tìm gặp đối tượng tên “Ken” để mua ma túy đá. Đến sáng ngày 10/12/2019, H đi đến thành phố H, sau đó đi đến quận G, qua dò hỏi H tiếp tục đi vào một con đường hẻm thuộc quận G và gặp được người đàn ông tên “Ken”, H hỏi mua ma túy đá số tiền 2.700.000 đồng thì người này đồng ý bán, sau đó người này gọi điện thoại cho một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) đưa ma túy đá đến bán cho H. Một lúc sau, có một người phụ nữ đi đến và đưa cho H một gói nylon bên trong có chứa các cục chất rắn dạng tinh thể, H biết đó là ma túy đá nên cầm gói ma túy cất vào trong người và đưa số tiền 2.700.000đ cho người phụ nữ này. Mua được ma túy H đi đến một nhà nghỉ (không nhớ tên và địa chỉ) trên địa bàn quận G, thành phố H thuê phòng để nghỉ. Tại đây, H phân chia số ma túy thành hai loại, một loại dùng để bán và một loại dùng để sử dụng cho bản thân. Loại ma túy đá dùng để bán kiếm lời H chia làm 23 phần nhỏ, bỏ vào 23 gói nylon nhỏ dán kín và dùng hai túi nylon lớn để đựng, túi thứ nhất đựng 13 gói, túi thứ hai đựng 10 gói; số ma túy đá còn lại H để trong túi nylon ban đầu gói lại để sử dụng cá nhân. Đến tối cùng ngày H cất toàn bộ số ma túy đá mua được vào trong người, rồi đón xe khách về lại thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 12/12/2019 về đến thị xã B, H cất số ma túy đá trên vào ống tay áo khoác bên trái đang mặc trên người, rồi đi đến gặp bạn Trần Văn L đang thuê phòng số 02, nhà nghỉ số 05 N, TDP 9, phường A, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk, do ông Phan Hữu Th làm chủ. Tại phòng trọ H lấy ra một ít ma túy đá cho L, Phan Thị Mỹ Tr và Nguyễn Đức T cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày khi H, L, Tr và T vừa sử dụng xong chất ma túy, đang ngồi chơi thì bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã Buôn Hồ phát hiện bắt quả tang và thu giữ trong ống tay áo khoác bên trái của H đang mặc trên người toàn bộ số ma túy còn lại, H khai nhận các cục chất rắn dạng tinh thể có trong các gói nylon vừa bị thu giữ là ma túy đá, H mua về để bán kiếm lời và sử dụng cá nhân.
Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra thu giữ: 03 (ba) gói nylon trong suốt, trong đó: Gói thứ nhất bên trong chứa các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng, gói thứ hai bên trong có 13 (mười ba) gói nylon trong suốt và gói thứ ba bên trong có 10 (mười) gói nylon trong suốt đều có chứa các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng, có tổng khối lượng 2,5062gam.
Bản kết luận giám định số: 1031/GĐMT-PC09 ngày 18 tháng 12 năm 2019, của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đăk Lăk, kết luận: Các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong các gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,5062 gam, loại Methamphetamine. Số lượng ma túy còn lại sau giám đinh là 2,4535gam, loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKSBH ngày 03/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố bị cáo Đoàn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Xét hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tịch thu và tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định là 2,4535gam, loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa, bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì và nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ.
Trong phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Buôn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Do tư lợi cá nhân và nhu cầu sử dụng cho bản thân, nên vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 12/12/2019, tại phòng trọ số 02, nhà nghỉ số 05 N, thuộc TDP 9, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Trước đó, bị cáo Đoàn Văn H đã có hành vi mua trái phép chất ma túy tại địa bàn quận G, thành phố H mang về để sử dụng và bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị công an thị xã B phát hiện bắt quả tang, thu giữ khối lượng 2,5062gam chất ma túy, loại Methamphetamine.
Xét lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, phù hợp với bản kết luận giám định của phòng KTHS Công an tỉnh Đắk Lắk, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo đã phạm vào tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, HĐXX nhận thấy: Bị cáo là công dân có đủ nhận thức và biết rõ ma túy là chất kích thích gây nghiện mà Nhà nước có chính sách đặc quyền quản lý, mọi hành vi xâm hại đều phải bị trừng trị. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách đặc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy mà còn xâm phạm trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân của những hành vi nguy hiểm khác gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương, thiệt hại mà nó gây ra không những làm gây hại về trước mắt đối với những người sử dụng chất ma túy mà còn gây hại đến toàn cộng đồng, tác dụng của nó ảnh hưởng xấu và lâu dài cho xã hội, đặc biệt tội phạm về ma túy đang diễn biến phức tạp và là hiểm họa của toàn cầu. Do đó, HĐXX thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới bảo đảm tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy đinh tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nh m thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian là phù hợp.
Các biện pháp Tư pháp: Cần tịch thu và tiêu hủy khối lượng 2,4535gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định, phù hợp Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông tên “Ken” và người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo tại quận G, thành phố H bị cáo H không biết nhân thân lai lịch cụ thể của những đối tượng này, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Buôn Hồ, không có cơ sở để xác minh làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Trần Văn L, Phan Thị Mỹ Tr và Nguyễn Đức T là những người được bị cáo H cho sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị xã Buôn Hồ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội là đúng pháp luật.
Đối với ông Phan Văn T là chủ sở hữu nhà nghỉ số 05 N, TDP 9, phường A, thị xã B cho Trần Văn L thuê phòng số 02 để ở, việc L cho các đối tượng làm địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy, ông T không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ không đề cập xử lý đối với ông Phan Văn T là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bởi các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đoàn Văn H 03 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/12/2019.
Các biện pháp Tƣ pháp:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu và tiêu hủy khối lượng 2,4535gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Đoàn Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND thị xã Buôn Hồ; - Công an thị xã Buôn Hồ; - Chi cục THADS thị xã Buôn Hồ; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VPCQ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Kim Chung |