vanban.org

Bản án 13/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Trần Trọng T 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2019. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trọng T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy mẫu trả; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HSST
Ngày 28 tháng 04 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành

Bà Trần Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLST - HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Trọng T, sinh ngày 25/8/1989 tại thị trấn L, huyện L, tỉnh V. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh V; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trung Th và bà Dương Thị S; vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1992 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Vũ Văn P, sinh năm 1991; Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện V, tỉnh V, vắng mặt

+ Anh Đặng Trần Duy A, sinh năm 1986; Nơi cư trú: TDP C, thị trấn H, huyện L, tỉnh V, vắng mặt

+ Ông Trần Trung Th, sinh năm 1956; Nơi cư trú: TDP T, thị trấn L, huyện L, tỉnh V, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vu án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cùng nghiện chất ma túy, khoảng 16 giờ ngày 19/12/2019; Đặng Trần Duy A ở tổ dân phố C, thị trấn H, huyện L đang đi chơi cùng Vũ Văn P ở thôn T, xã B, huyện V, tinh V tại khu vực xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch thì P và A rủ nhau góp mỗi người 100.000đ mua ma túy cùng sử dụng. Sau đó, A đưa cho P 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ và mượn điện thoại của một người đàn ông làm xe ôm gọi vào số điện thoại xxxxxxxxxx của Trần Trọng T ở thị trấn L, huyện L hỏi mua ma túy với giá 200.000đ; T đ ng ý và hẹn gặp nhau tại đầu đường đôi thuộc Tổ dân phố V, thị trấn L. A và P thuê người trở xe ôm trên đi đến chỗ hẹn chờ T. Một lát sau, T một mình điều khiển xe mô tô BKS 88K9 - 0452 đến. A bảo P đưa 200.000đ (g m hai tờ tiền polime mệnh giá 100.000đ) cho T, T cầm tiền cất vào túi áo khoác đang mặc và lấy 01 gói nhỏ ma túy heroine để bán cho P nhưng chưa kịp đưa thì bị lực lượng cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy Công an tỉnh Vĩnh Phúc bắt quả tang, T vứt bỏ gói ma túy định bán cho P và A xuống nền đường. Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng g m: thu tại nền đường vị trí nơi T bị bắt giữ 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc bên trong chứa chất bột cục màu trắng niêm phong ký hiệu A1; thu trên người T 06 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc bên trong chứa chất bột cục màu trắng niêm phong ký hiệu A2; Số tiền 200.000đ (g m hai tờ tiền polime mệnh giá 100.000đ).

Cùng ngày, cơ quan CSĐT công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của T, quá trình khám xét không phát hiện và thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 2665/KLGĐ ngày 23/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“1. Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại heroine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0550g, khối lượng heroin có trong 0,0550g mẫu là 0, 0381g.

2. Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại heroine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4459g, khối lượng heroin có trong 0,4459g mẫu là 0,3162g”

Về ngu n gốc số ma túy đã thu giữ, Trần Trọng T khai mua của một người đàn ông không biết tên ở khu vực bến xe thành phố Bắc Ninh vào trưa ngày 16/12/2019 với giá 1.000.000đ, sau đó đem về chia làm 07 gói nhỏ bán lấy tiền chênh lệch. Do không biết tên tuổi địa chỉ của người đàn ông đã bán ma túy cho T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh.

Đối với Đặng Trần Duy A và Đỗ Văn P đều là đối tượng nghiện ma túy, mua ma túy để sử dụng, bản thân A và P chưa có tiền án tiền sự về các tội ma túy, ngày 21/02/2020 Công an huyện Lập Thạch thông báo đến Công an xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường và Công an thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch đề nghị lập h sơ quản lý P và A tại địa phương theo quy định pháp luật.

Vật chứng vụ án:

- Cơ quan giám định hoãn mẫu sau giám định A1 = 0,000g; A2 = 0,2069g chất ma túy và toàn bộ bao gói.

- 1.100.000đ của Trần Trọng T, trong đó 200.000đ là tiền bán ma túy; 900.000đ là tiền của T do lao động mà có.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số COD 0546885, lắp số thuê bao xxxxxxxxxx của T dùng để trao đổi việc mua bán ma túy.

- 01 xe mô tô BKS 88K9 - 0452 có số máy MVDABH015039, số khung 11HH9H015039, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Trần Trung Th (bố đẻ của T.

Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS - MT ngày 04 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Trần Trọng T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Trần Trọng T. Giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Trọng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trọng T từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có lời bào chữa, bổ sung nào khác.

Bi cáo nói lời sau cùng: Bi cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đ ng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Trọng T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản kiểm điểm của bị cáo; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; biên bản phạm pháp quả tang; biên bản thu giữ vật chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong h sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: khoảng 16 giờ ngày 19/12/2019 tại khu vực đầu đường đôi thuộc tổ dân phố Phú Thịnh, thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, Trần Trọng T bán trái phép 01 gói ma túy với giá 200.000đ cho Đặng Trần Duy A và Vũ Văn P thì bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Trần Trọng T đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều luật quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại cuộc đấu tranh quyết liệt của Nhà nước và nhân dân ta nhằm đẩy lùi và loại trừ tội phạm ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Ma tuý đã gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ, nhân cách và nòi giống con người, ma tuý còn gây ra biết bao hiểm hoạ nghiêm trọng khác cho xã hội, là ngu n gốc phát sinh hàng loạt các loại tội phạm như trộm cắp, cướp giật, giết người ...... Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

Khi lượng hình cần xem xét tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng …”. Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo thấy rằng: bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị, vẫn sống phụ thuộc vào gia đình vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu trả sau giám định A1 = 0,000g; A2 = 0,2059g chất ma túy và toàn bộ bao gói.

- Số tiền 1.100.000đ thu giữ của Trần Trọng T, trong đó 200.000đ là tiền bán ma túy cần tịch thu xung quỹ Nhà nước; 900.000đ là tiền của T do lao động mà có nên trả lại nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số COD 0546885, lắp số thuê bao xxxxxxxxxx của T dùng để trao đổi việc mua bán ma túy nên cần tịch thu bán xung quỹ Nhà nước.

- Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại ông Trần Trung Th (bố đẻ của T 01 xe mô tô BKS 88K9 - 0452 có số máy MVDABH015039, số khung 11HH9H015039 là có căn cứ đúng chủ sở hữu.

Về án phí: Bị cáo Trần Trọng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Trần Trọng T 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy mẫu trả sau giám định A1 = 0,000g; A2 = 0,2059g chất ma túy và toàn bộ bao gói.

Tịch thu xung quỹ Nhà nước 200.000đ là tiền T bán ma túy cho A và D.

Trả lại Trần Trọng T 900.000đ nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu bán xung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, số COD 0546885, lắp số thuê bao xxxxxxxxxx của T là công cụ phương tiện phạm tội.

(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 3 năm 2020)

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Trọng T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ