- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn d cùng đồng bọn - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM X TỈNH HÀ T Bản án số: 13/2020/HSST Ngày:5/5/2020 5/5/2020 |
5/5/2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh T
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông D Hữu T, ông Nguyễn Văn T
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên Toà: Bà Lê Thị Thu H, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện VKSND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên Toà: Bà Nguyễn Thị L, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 05 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số17/2020/HSST ngày 01/04/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020 ngày 22/04/2020 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1973. Tại: xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn 2, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Nguyễn Văn Chữ; Sinh năm 1926; (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Chữ; Sinh năm 1932; (Đã chết); Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Trần Thị Tý, Sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Hiện đang cư trú tại Thôn 2, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Con: có 04 đứa, đứa lớn sinh năm 1996, đứa bé sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/12/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 2001. Tại: xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên trường Cao Đẳng nghề Việt Đức, Hà Tĩnh.Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Nguyễn Văn Mạnh; Sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con bà: Nguyễn Thị Sử; Sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Hiện cả hai đang cư trú tại: Thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/12/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Đặng Thế Thái S, sinh ngày 05/9/2004; Trú tại: thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Học sinh, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Chị Trần Thị T, sinh năm 1972; Trú tại: thôn 2, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng, có mặt.
3. Anh Nguyễn Văn Nhật, sinh năm 2003. Trú tại: thôn 2, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Học sinh, có mặt.
4. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1964; Trú tại: thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Làm ruộng, có mặt.
5. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1964; Trú tại: thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Làm ruộng, có mặt.
- Người giám hộ cho Đặng Thế Thái Sơn: Bà Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1980; trú tại: thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Làm ruộng, vắng mặt, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người giám hộ cho Nguyễn Văn N: Chị Trần Thị T, sinh năm 1972; Trú tại: thôn 2, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 14/12/2019 tại khu vực cầu Chai, thuộc địa phận Thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn H đang điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Xmen, màu đen, biển kiểm soát 38MD1-684.19, trên xe chở 01 bao tải màu vàng, bên trong chứa 10 hộp hình hộp giấy ngoài có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (17,5x17,5x10)cm. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Văn H phát hiện và thu giữ tại gác lửng 01 bao tải bên trong chứa 14 khối hộp giấy ngoài có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (14,5x14,5x10)cm. Nguyễn Văn H khai nhận đó là pháo nổ, do Nguyễn Văn D mua về nhờ H cất giấu để chia nhau sử dụng vào dịp tết Nguyên đán Canh Tý 2020.
Quá trình điều tra xác định: Tháng 8/2019, Nguyễn Văn D đi lao động tại nước Lào thì gặp và hỏi mua pháo nổ từ một người đàn ông (Không rõ họ tên, địa chỉ) mang quốc tịch Lào để đưa về quê sử dụng. D và người đàn ông thống nhất thỏa thuận mua 10 hộp pháo loại 49 quả, với giá 250.000 đồng/ hộp và 14 hộp pháo loại 36 quả với giá 200.000 đồng/hộp và hẹn địa điểm giao pháo tại Thị trấn Phố Châu, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Đến cuối tháng 8/2019 D đi từ Lào về Việt Nam, khi đến Thị trấn Phố Châu, huyện Hương Sơn, người đàn ông giao cho D 10 hộp pháo loại 49 quả và 14 hộp pháo loại 36 quả, đựng trong 02 bao tải màu vàng, D trả cho người đàn ông tổng số tiền 5.300.000 đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được pháo, D đưa về cất giấu tại căn gác lửng trong nhà ở của gia đình thuộc Thôn 2, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, để chờ đến Tết nguyên đán Canh Tý đưa ra sử dụng. Đến chiều ngày 07/12/2019, do sợ bị Công an truy quét phát hiện, D sử dụng điện thoại hiệu Nokia màu đen, bên trong chứa số thuê bao 0341314916 gọi vào số thuê bao 0924639235 của Nguyễn Văn H (Là cháu con chị ruột của D) nhờ H cất giấu 02 bao tải đựng pháo nói trên tại nhà gia đình H để Tết nguyên đán Canh Tý chia nhau sử dụng, H đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, D thuê 01 chiếc xe taxi của một người không quen biết, chở số pháo nói trên đến nhà H, rồi cùng H đưa lên cất giấu tại căn gác lửng trong nhà gia đình H thuộc địa phận Thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 19 giờ ngày 14/12/2019, do sợ bị phát hiện nên H mượn xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đen, biển kiểm soát 38MD1-684.19 của anh Đặng Thái Thế S, (Sinh năm 2004, trú cùng thôn với H) chở 01 bao tải bên trong đựng 10 hộp pháo loại 49 quả đi cất giấu tại nghĩa trang thuộc xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên. Khoảng 19 giờ 30 phút, khi H đi đến khu vực cầu Chai, thuộc địa phận Thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, thì bị Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện và bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của gia đình Nguyễn Văn H phát hiện và thu giữ tại gác lửng 01 bao tải màu vàng bên trong chứa 14 hộp pháo loại 36 quả.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã trưng cầu giám định số pháo thu giữ của Nguyễn Văn H. Tại bản kết luận giám định số 02/GĐP-PC09 ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 10 (Mười) khối hộp giấy ngoài có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (17,5x17,5x10)cm, trong mỗi khối hộp có 49 hình trụ bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 19,2kg; 14 (Mười bốn) khối hộp giấy ngoài có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (14,5x14,5x10)cm, trong mỗi khối hộp có 36 hình trụ bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 17kg.
+ Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Xuyên đã tiến hành thu giữ những vật chứng sau:
01 (Một) hộp giấy bìa cát tông màu vàng, bên trong chứa 19,12kg pháo, sau khi đã trừ mẫu giám định, không hoàn lại; đã được niêm phong,
01 (Một) hộp giấy bìa cát tông màu vàng, bên trong chứa 16,92kg pháo, sau khi đã trừ mẫu giám định, không hoàn lại; đã được niêm phong.
01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số seri 1: 3572860840493921, số seri 2: 35728600493939.
01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu hồng, số seri: 356676057792003.
02 (Hai) bao tải màu vàng, bên ngoài có chữ URAE và nhiều dòng chữ nước ngoài.
Những vật chứng nói trên hiện chưa xử lý, chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên xử lý theo quy định pháp luật.
01 (Một) xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đen, biển kiểm soát 38MD1-684.19, số máy WY11900081, số khung EKUMJPH02101 đã trả lại cho anh Đặng Thế Thái Sơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên sau khi phân tích đánh giá các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 12 đến 15 tháng tù về tội „tàng trữ hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn H từ 9 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “tàng trữ hàng cấm”.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật để xử lý vật chứng, tiền án phí HSST cũng như quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố về thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại tố cáo về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như người tiến hành tố tụng của điều tra viên và kiểm sát viên trong quá trình thụ lý, điều tra vụ án. Hội đồng xét xử thấy hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn H: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp cáo trạng truy tố, lời khai của người liên quan, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra và cáo trạng truy tố. Từ đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào hồi 19 giờ 30 phút, ngày 14/12/2019, tại khu vực Cầu Chai, thuộc địa phận thôn Yên Bình, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên bắt quả tang Nguyễn Văn H đang tàng trữ 19,2 kg pháo nổ. Khám xét nhà ở của gia đình Nguyễn Văn H tiếp tục thu giữ tại gác lửng 17kg pháo nổ. Nguyễn Văn H khai nhận số pháo nói trên là của Nguyễn Văn D đưa đến nhà nhờ H cất giấu để chia nhau sử dụng vào dịp Tết nguyên đán Canh Tý. Tổng số pháo mà Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn H tàng trữ nhằm mục đích sử dụng là 36,2kg (Ba mươi sáu phẩy hai ki lô gam).
Trong vụ án này Nguyễn Văn D là người giữ vai trò chính, Nguyễn Văn H đồng phạm với vai trò giúp sức.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, pháo nổ là loại hàng hóa mà nhà nước đã cấm sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển nhằm ngăn ngừa hậu quả gây ra cho xã hội; gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, việc phát hiện, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử đối với hành vi tàng trữ hàng cấm đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình cần phải căn cứ vào nhân thân, hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho từng bị cáo.
Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân các bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn D có bố đẻ được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bản thân bị cáo D không biết chữ nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo H có đơn hoàn cảnh được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy bị cáo D, bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, nhưng riêng bị cáo D là người giữ vai trò chính nên dù có chiếu cố đên dâu cũng cần phải cách ly bị cáo D ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đối với bị cáo H là đồng phạm với vai trò giúp sức, hơn nữa bị cáo hiện nay đang đi học, vì vầy xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng điều 65 BLHS cho bị cáo H được cải tạo giáo dục tại địa phương, tạo điều kiện cho bị cáo ăn năn hối cải, tiếp tục đi học để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với Đặng Thế Thái Sơn là chủ sở hữu xe máy điện hiệu Xmen, màu đen, biển kiểm soát 38MD1-684.19 mà Nguyễn Văn H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Qúa trình điều tra xác định anh Sơn không có lỗi trong việc để H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với người đàn ông mang Quốc tịch Lào bán pháo nổ cho D và người lái xe taxi do D thuê chở Pháo đến nhà H cất giấu. Quá trình điều tra D khai không quen biết những người này và không biết rõ về nhân thân, lai lịch, nên không xác minh được để xử lý.
Đối với bà Trần Thị Tý, cháu Nguyễn Văn Nhật (là vợ và con của Nguyễn Văn D); ông Nguyễn Văn Mạnh và bà Nguyễn Thị Sử (là cha, mẹ đẻ của Nguyễn Văn H) đã để D và H đưa pháo (tang vật phạm tội) về cất dấu trong gia đình. Quá trình điều tra xác định những người này không biết, không có vai trò đồng phạm, nên không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu, giao cho chi cục thi hành án huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử lý theo quy định của pháp luật gồm: 01 (Một) hộp giấy bên trong chứa 19,12kg pháo (đã trừ mẫu giám định), 01 (Một) hộp giấy bên trong chứa 16,92kg pháo, (đã trừ mẫu giám định).
- Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số seri 1: 3572860840493921, số seri 2: 35728600493939; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu hồng, số seri: 356676057792003.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) bao tải màu vàng, bên ngoài có chữ URAE và nhiều dòng chữ nước ngoài.
Còn 01 (Một) xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đen, biển kiểm soát 38MD1-684.19, số máy WY11900081, số khung EKUMJPH02101 đã trả lại cho anh Đặng Thế Thái Sơn, nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1.
Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Áp dụng khoản 1 điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn H từ 8 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho chính quyền địa phương xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 BLHS. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 luật thi hành án hình sự.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số seri 1: 3572860840493921, số seri 2: 35728600493939; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu hồng, số seri: 356676057792003.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) bao tải màu vàng, bên ngoài có chữ URAE và nhiều dòng chữ nước ngoài.
- Tịch thu, giao cho chi cục thi hành án huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử lý theo quy định của pháp luật gồm: 01 (Một) hộp giấy bên trong chứa 19,12kg pháo (đã trừ mẫu giám định), 01 (Một) hộp giấy bên trong chứa 16,92kg pháo, (đã trừ mẫu giám định).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135 bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 3, khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2006. Buộc bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên, người giám hộ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người giám hộ (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Hội đồng xét xử Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |