- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2020/HS-PT Ngày: 05/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thiện
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền
Ông Hồ Đức Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 65/2020/TLPT-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn D, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2020/HS-ST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1973. Tại: xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn 2, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Nguyễn Văn C; Sinh năm 1926; (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C; Sinh năm 1932; (Đã chết); Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Trần Thị T, Sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Hiện đang cư trú tại Thôn 2, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Con: có 04 đứa, đứa lớn sinh năm 1996, đứa bé sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/12/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1972; trú tại: thôn 2, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 8/2019, Nguyễn Văn D đi lao động tại nước Lào thì gặp và hỏi mua pháo nổ từ một người đàn ông (Không rõ họ tên, địa chỉ) mang quốc tịch Lào để đưa về quê sử dụng. D và người đàn ông thống nhất thỏa thuận mua 10 hộp pháo loại 49 quả, với giá 250.000 đồng/ hộp và 14 hộp pháo loại 36 quả với giá 200.000 đồng/hộp và hẹn địa điểm giao pháo tại Thị trấn Phố C, huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh. Đến cuối tháng 8/2019 D đi từ Lào về Việt Nam, khi đến Thị trấn Phố C, huyện Hương S, người đàn ông giao cho D 10 hộp pháo loại 49 quả và 14 hộp pháo loại 36 quả, đựng trong 02 bao tải màu vàng, D trả cho người đàn ông tổng số tiền 5.300.000 đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được pháo, D đưa về cất giấu tại căn gác lửng trong nhà ở của gia đình thuộc Thôn 2, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, để chờ đến Tết nguyên đán Canh Tý đưa ra sử dụng. Đến chiều ngày 07/12/2019, do sợ bị Công an truy quét phát hiện, D sử dụng điện thoại hiệu Nokia màu đen, bên trong chứa số thuê bao 0341314916 gọi vào số thuê bao 0924639235 của Nguyễn Văn H (Là cháu con chị ruột của D) nhờ H cất giấu 02 bao tải đựng pháo nói trên tại nhà gia đình H để Tết nguyên đán Canh Tý chia nhau sử dụng, H đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, D thuê 01 chiếc xe taxi của một người không quen biết, chở số pháo nói trên đến nhà H, rồi cùng H đưa lên cất giấu tại căn gác lửng trong nhà gia đình H thuộc địa phận Thôn Yên B, xã Cẩm B, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 19 giờ ngày 14/12/2019, do sợ bị phát hiện nên H mượn xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đen, biển kiểm soát 38MD1-684.19 của anh Đặng Thái Thế S, (Sinh năm 2004, trú cùng thôn với H) chở 01 bao tải bên trong đựng 10 hộp pháo loại 49 quả đi cất giấu tại nghĩa trang thuộc xã Cẩm B, huyện Cẩm X. Khoảng 19 giờ 30 phút, khi H đi đến khu vực cầu Chai, thuộc địa phận Thôn Yên B, xã Cẩm B, huyện Cẩm X, thì bị Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm X phát hiện và bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của gia đình Nguyễn Văn H phát hiện và thu giữ tại gác lửng 01 bao tải màu vàng bên trong chứa 14 hộp pháo loại 36 quả. Nguyễn Văn H khai nhận đó là pháo nổ, do Nguyễn Văn D mua về nhờ H cất giấu để chia nhau sử dụng vào dịp tết Nguyên đán Canh Tý 2020.
Tại bản kết luận giám định số 02/GĐP-PC09 ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 10 (Mười) khối hộp giấy ngoài có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (17,5x17,5x10)cm, trong mỗi khối hộp có 49 hình trụ bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 19,2kg; 14 (Mười bốn) khối hộp giấy ngoài có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (14,5x14,5x10)cm, trong mỗi khối hộp có 36 hình trụ bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 17kg.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 15/5/2020, bị cáo Nguyễn Văn D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét kháng cáo của người kháng cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn D hoàn toàn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội cũng như phù hợp với lời khai của những người liên quan. Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án của Tòa án nhân dân huyện Cẩm X không bị kháng nghị. Bị cáo D kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo, điều đó khẳng định Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên đối với bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ hàng cấm” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật .
Về nội dung vụ án:
Vào hồi 19 giờ 30 phút, ngày 14/12/2019, tại khu vực Cầu C, thuộc địa phận thôn Yên B, xã Cẩm B, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm X bắt quả tang Nguyễn Văn H đang tàng trữ 19,2 kg pháo nổ. Khám xét nhà ở của gia đình Nguyễn Văn H tiếp tục thu giữ tại gác lửng 17kg pháo nổ. Nguyễn Văn H khai nhận số pháo nói trên là của Nguyễn Văn D đưa đến nhà nhờ H cất giấu để chia nhau sử dụng vào dịp Tết nguyên đán Canh Tý. Tổng số pháo mà Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn H tàng trữ nhằm mục đích sử dụng là 36,2kg.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Tại cấp sơ thẩm, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo cũng đã thật sự ý thức được về hành vi phạm tội, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, bố ruột bị cáo được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Phần nhận định của bản án sơ thẩm đã phân tích đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nhưng phần quyết định của bản án sơ thẩm không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS là thiếu sót.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ nghiêm. Vậy nên chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS.
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D.
Sửa Bản án sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/8/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015, khoản 2 Điều 21, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 06 – Công an tỉnh Hà Tĩnh - TA, CA, VKS, THA sơ thẩm; - Bị cáo kháng cáo; - Lưu hồ sơ, THS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thiện |