vanban.org

Bản án 13/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ma Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Túy”.

Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Ma Văn T 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ma Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HSST
Ngày 09/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Đình Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Giàng Thi Phượng

Bà: Đinh Thị Út

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia

phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2020, Tại Nhà Văn hóa Ủy ban nhân dân xã Yên Sơn,

huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2020/TLST-HS ngày 29/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Ma Văn T, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2000, tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào

Cai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản C 1, xã H, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Ma Văn T2 và bà Long Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/3/2020, bị tạm giam từ ngày 02/4/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Liệu Thị Thư, Trợ giúp viên Trung tâm

trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai – có mặt.

Người có quyền lợi liên quan: Bà Long Thị H, trú tại Bản C 1, xã H,

huyện Bảo Yên – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ ngày 27/3/2020, tại Tổ 7, TT.Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh

Lào Cai, Công an huyện Bảo Yên bắt quả tang Ma Văn T điều khiển xe mô tô Hãng Honda hiệu Wave alpha màu đen BKS 24Y1-196.45 đang cất giấu tại hốc gương xe bên phải 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 03 gói nilon màu đen, mỗi gói bên trong có chứa chất bột khô vón cục màu trắng, T khai là hêrôin mua về để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Ma Văn T khai: Tối ngày 26/3/2020 Phạm Duy Đ

trú tại Bản C 1, xã H và Đặng Đình C trú tại Đội 6, xã V, huyện Bảo Yên đến nhà T chơi. Khi ngồi chơi Đ nói có quen một người ở Lào Cai lấy được hàng và rủ sáng mai cả ba đi Lào Cai lấy, T và C đồng ý, C và Đ góp tiền được 700.000đ sau đó C giữ số tiền này. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/3/2020 Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu wave alpha mang BKS 24Y1-196.45 chở C, T đi lên Lào Cai để mua ma túyvề sử dụng. Khi đi đến thị trấn Phố Ràng Đ nói “Vào nhà anh Q để lấy thêm tiền”, Đ điều khiển xe đến cổng nhà anh Q, Q từ trong nhà ra trên tay cầm sẵn 500.000đ đưa cho Đ , Đ cầm cho vào túi quần, sau đó Đ điều khiển chở C, T lên thành phố Lào Cai. Trên đường đi Đ lấy điện thoại gọi cho một người đàn ông và nói “Để cho em ít hàng, em lên bây giờ” người đó trả lời “Khi nào lên gần đến nơi thì gọi cho anh”. Khi đến Lào Cai, Đ bảo C và T xuống xe đứng đợi, C đưa cho Đ 700.000đ, Đ cầm tiền và lấy 500.000đ tiền Q đưa tổng số tiền là 1.200.000đ, lúc này có một người đàn ông đội mũ bảo hiểm đi xe môtô màu đỏ, áo màu đỏ, quần màu xám đi đến gần, Đ điều khiển xe mô tô đi theo người đàn ông đó. Khoảng 15 phút sau, Đquay lại T hỏi “Hàng đâu” Đ lấy bao thuốc lá và mở ra thì bên trong có 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 03 gói nilon màu đen là ma túy, Đ đưa cho C số ma túynày và điều khiển xe chở C, T về. Khi về đến km 3 quốc lộ 70 thuộc thị trấn Phố Ràng, Đ dừng xe lại và cả 3 đi vào bụi cây ven đường, Đ bảo C lấy ma túyra sử dụng, cả ba người sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng xong Đ gói số ma Túycòn lại như cũ và cất vào trong bao thuốc lá, C điều khiển xe chở Đ cùng với T về nhà Q. Khi đến nhà Q, Đ bỏ gói ma túyra bàn, Q và Đ mở gói ma túylấy một ít ra rồi Q, Đức, C cùng sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng xong, C đưa cho T 100.000đ và bảo “Đây là tiền đổ xăng đi Lào Cai về” T cầm tiền cất vào túyquần còn Đ gói ma túylại và đưa cho T. T cầm gói ma túy ra xe mô tô của T cất vào hốc gương xe bên phải. Sau đó, Q lấy điện thoại và gọi điện cho một người và Q bảo T đi ra sân cỏ nhân tạo phía sau Bệnh viện đa khoa huyện Bảo Yên để gặp một người đàn ông to béo đưa ma túycho người đó cùng sử dụng, T đồng ý, khi T đi đến đoạn đường gần sân cỏ nhân tạo thuộc tổ 7 thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên gặp lực lượng công an kiểm tra, T đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túygiấu ở hốc gương xe bên phải và khai nhận hành vi phạm tội.

Tại kết luận giám định số 75/GĐMT ngày 01/4/2020 của Phòng KTHS

Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa 03 gói được gói bằng nilon màu đen bên trong mỗi gói chứa chất bột khô vón cục, màu trắng thu giữ của Ma Văn T ngày 27/3/2020 có khối lượng 0,62 (không phẩy sáu hai) gam là loại chất ma TúyHeroine.

Cơ quan điều tra tạm giữ 01 xe mô tô hãng Honda hiệu Wave alpha màu

đen BKS 24Y1-196.45; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Viettel V6102; và số tiền 100.000đ, số vật chứng này do Cơ quan thi hành án dân sự huyện Bảo Yên đang quản lý theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp

với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

Cáo trạng số: 11/CT-VKS BY ngày 28/5/2020 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Ma Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm

hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng đã viện dẫn ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51

Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ma Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù;

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

điểm a khoản 2 và điển a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,39 gam Heroine, trả lại 01 xe mô tô hãng Honda hiệu Wave alpha màu đen BKS 24Y1-196.45 cho bà Long Thị H; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Viettel V6102. Tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000đ để đảm bảo thi hành án.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều

249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án bị cáo đề nghị Hội đồng xét

xử giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra truy tố: Hành vi,

quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Chiều ngày 27/3/2020 tại đoạn đường

gần sân cỏ nhân tạo thuộc tổ 7 thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên Công an huyện Bảo Yên bắt quả tang Ma Văn T điều khiển xe mô tô BKS 24Y1-196.45 đang cất giấu tại hốc gương xe bên phải 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 03 gói nilon màu đen, mỗi gói bên trong có chứa chất bột khô vón cục màu trắng, Ma Văn T khai mua về để sử dụng. Ma túy thu giữ có khối lượng 0,62 (không phẩy sáu hai) gam là Heroine, do đó bị cáo đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma Túytheo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân: Bị cáo là người có đủ

năng lực, trách nhiệm hình sự hiểu rõ ma túy bị nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép dưới mọi hình thức, ma túycũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm hình sự. Nhưng bị cáo không chấp hành tốt quy định của pháp luật mà đã nghiện ma túyrồi mua Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Song xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông nội bị cáo có công với cách mạng và là liệt sỹ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và Huân chương chiến công giải phóng; ông ngoại bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 01

năm tù, xét thấy đề nghị của người bào chữa quá nhẹ chưa đánh giá được hết tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, xét thấy bị cáo không có

thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về vật chứng của vụ án: Số Heroine Cơ quan điều tra thu giữ gửi đi

trưng cầu giám định, sau khi giám định Cơ quan giám định hoàn lại 0,39 gam được niêm phong trong bì thư in sẵn của phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, số vật chứng này đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên lưu giữ. Xét thấy số vật chứng trên do Nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành do vậy C tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về tài sản tạm giữ: 01 xe mô tô hãng Honda, hiệu Wave alpha màu

đen BKS 24Y1-196.45 chiếc xe này là tài sản của bà Long Thị H là mẹ bị cáo, bà Hiện không biết bị cáo mang xe đi và cất giấu ma túy trong xe nên xe không phải vật chứng của vụ án cần trả lại chủ sở hữu. 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Viettel V6102 đang tạm giữ của bị cáo, xét thấy không có căn cứ chứng minh bị cáo đã dùng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần trả lại bị cáo là phù hợp. Số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, không phải là vật chứng của vụ án lẽ ra phải trả lại bị cáo tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí vì vậy cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với Lã Ngọc Q là người mà bị cáo khai đã đưa 500.000đ cho Đ để đi

mua ma Túyvà cùng sử dụng. Q bảo T mang ma Túy cho người đàn ông ở tổ 7, TT.Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Q không thừa nhận việc đưa tiền cho Đ và bảo T mang ma túy cho người đàn ông ở tổ 7, cơ quan điều tra đã thực hiện hết các hoạt động điều tra nhưng không đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Q, do đó không đề cập xử lý.

Đối với Phạm Duy Đ và Đặng Đình C, bị cáo khai ngày 27/3/2020 cùng bị

cáo đi mua ma Túyở Lào Cai và cùng sử dụng. Qúa trình xác minh Đ và C không có mặt tại địa phương, do vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Yên chưa làm rõ được nên đã tách ra khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với người đàn ông ở thành phố Lào Cai bị cáo khai là người bán ma

túy ngày 27/3/2020 cho Đ, quá trình điều tra không xác minh được tên, tuổi địa chỉ nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Ma Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51

Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Ma Văn T 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (27/3/2020).

2. Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2,3 Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,39 gam Heroine được niêm phong trong phong bì thư in sẵn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt phong bì có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Ma Văn T ngày 27/3/2020 tại tổ 7, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Trả lại bà Long Thị H 01 xe mô tô hãng Honda, hiệu Wave alpha màu

đen biển kiểm soát 24Y1-196.45, xe không có gương chiếu hậu hai bên, số khung RLHGA 3914LY025424, số máy JA39E-135952 xe cũ đã qua sử dụng.

Tiếp tục tạm giữ 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo Ma Văn T để

đảm bảo công tác thi hành án.

Trả lại bị cáo Ma Văn T 01 chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu

Viettel V6102, loại máy bàn phím số IMEI: 868979001217175 máy cũ đã qua sử dụng.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Ma Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ