vanban.org

Bản án 13/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 05/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Lâm Văn Quân phạm tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HSST
Ngày: 06-5-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tài.

Ông Phạm Đức Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Thành – Là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Việt Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 19/02/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-HS ngày 24/4/2020 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Văn H , sinh năm 1992 tại Lâm Đồng; NKTT và chỗ ở: Thôn 7, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Văn Tùng, sinh năm 1958 ( Đã chết ) và bà Nguyễn Thị Rao, sinh năm 1960; Có vợ tên Đinh Thị Cẩm Vân, sinh năm 1993 và 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 12/09/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm. “Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.

2.Họ và tên: Lâm Văn Quân, sinh năm 1968 tại Cao Bằng; NKTT và chỗ ở: Thôn 3, xã B’ Lá, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lâm Văn Khín, sinh năm 1943 và bà Lâm Thị Thao, sinh năm 1947 ( Đã chết ); Có vợ tên Lục Thị An, sinh năm 1976 và 01 con sinh năm 1999; Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án số 07/2016/HSST ngày 06/4/2016 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt bị cáo Lâm Văn Quân 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và buộc nộp 200.000đ án phí HSST; Đến ngày 07/02/2018 chấp hành xong hình phạt chính và 17/5/2016 đã nộp tiền án phí HSST. Tính đến ngày phạm tội mới 04/9/2019 bị cáo chưa được xóa án tích, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm. “Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.

* Ngƣời làm chứng:

1. Anh Đàm Văn Chu; Sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thôn 3, xã B’ Lá, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

2. Anh Lâm Văn Phú, Sinh năm 1981.

Địa chỉ: Thôn 3, xã B’ Lá, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 02/9/2019 Nguyễn Văn H đi đến huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông chơi và mua ma túy của một người dân tộc Mông (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 2.500.000đ. Đến ngày 03/9/2019 Hợp đem gói heroine này về nhà ở thôn 7, xã Lộc Ngãi chia thành 02 gói, trong đó có một gói bọc trong mảnh giấy báo màu trắng xanh bọc nylon bên ngoài và một gói bỏ trong mảnh giấy bạc thuốc lá màu trắng cất giấu và để sử dụng dần.

Đến 17giờ 00 phút ngày 04/9/2019 Hợp mang theo 2 gói heroine cất giấu trong người và nhờ bạn tên là Lục Văn Lưu chở đến nhà Lâm Văn Quân ở thôn 3, xã B’Lá, Bảo Lâm, Lâm Đồng chơi (Lưu không biết việc Hợp mang theo ma túy). Tại nhà Quân lúc này có: Hợp, Lưu, Lâm Văn Quân, Lâm Văn Phú, Đàm Văn Chu, Lục Thị An (vợ Quân) cùng ăn uống từ khoảng 18giờ 30 phút đến 19 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ. Sau khi nhậu xong Lưu đi về trước, còn Hợp, Quân, Phú, Chu ở lại và ngồi uống nước tại bàn gỗ phòng khách nhà Quân. Chị Lục Thị An thu dọn chén, bát xong thì đi ngủ trước, đến khoảng 21giờ 00 phút cùng ngày Hợp lấy 02 gói heroine trong túi quần Jean bên phải đằng trước Hợp đang mặc để lên bàn và rủ Quân, Phú, Chu cùng sử dụng ma túy thì cả 3 người đồng ý. Quân đồng ý cho tất cả mọi người cùng sử dụng ma túy tại nhà mình và dặn đừng để vợ Quân biết. Hợp mở gói giấy bạc ra và lấy con dao lam của Quân để ở dưới gầm bàn gỗ phòng khách chia ma túy cho Quân, Phú, Chu và bản thân Hợp mỗi người một ít. Tiếp đó Hợp, Quân, Phú, Chu lấy ma túy bỏ vào bơm kim tiêm ( của mỗi người tự mang theo) và lấy nước trong ca nhựa đựng nước màu trắng đã đặt sẵn trên bàn phòng khách nhà Quân pha ma túy cho vào ống bơm kim tiêm rồi tự chích ma túy vào tay của mình. 04 người sử dụng ma túy xong đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày thì Hợp ngủ lại tại giường ở phòng khách, Chu ngủ lại tại ghế gỗ phòng khách nhà Quân, còn Phú đi về nhà ngủ.

Đến khoảng 05 giờ 00 phút sáng ngày 05/9/2019 Hợp dậy đi vệ sinh và do sợ bị Công an kiểm tra nên Hợp cất giấu 02 gói heroine ở góc bờ tường cửa thông gió phòng vệ sinh nhà Quân sau đó vào giường ngủ tiếp.

Đến khoảng 09 giờ 45 phút ngày 05/9/2019 Công an huyện Bảo Lâm vào kiểm tra nhà Quân thì phát hiện tại phòng khách nhà Quân có 04 người gồm Quân, Hợp và Chu, Phú nên mời về công an xã B’Lá để làm việc. Tại Cơ quan Công an Hợp thừa nhận việc cùng nhau sử dụng ma túy và còn cất giấu hêrôin tại nhà vệ sinh nhà Quân đồng thời tự nguyện dẫn Cơ quan Công an về nhà Quân và giao nộp số heroine còn cất giấu trên. Riêng số kim tiêm của Quân, Phú, Chu, Hợp sử dụng và lưỡi dao lam thì sau khi cả 4 đối tượng bị mời về công an xã B’Lá làm việc bà Lục Thị An đã dọn dẹp đem vứt bỏ thùng rác công cộng nên không thu hồi được. Cơ quan CSĐT đã lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật nêu trên.

Ngày 07/09/2019 phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng có kết luận số 1401/GĐ-PC09 kết luận: Mẫu cục bột đựng trong gói giấy bạc và giấy báo được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,0433g, loại Heroine.

Trong quá trình nhóm Hợp, Quân, Phú, Chu sử dụng trái phép chất ma túy thì chị Lục Thị An đang nằm ngủ với cháu ngoại (3 tuổi) tại phòng ngủ thứ 3 ( tính từ ngoài cửa chính vào), cách vị trí bàn gỗ là 10 mét. Chị An không biết việc Hợp, Quân, Phú, Chu sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không thắc mắc, khiếu nại hay tranh luận gì.

Cáo trạng số 09/CTr-VKS ngày 18/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015; Lâm Văn Quân về tội “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 BLHS năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 đến 36 tháng tù. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lâm Văn Quân từ 07 đến 08 năm tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã có cơ sở khẳng định: Do cần ma túy để thỏa mãn cơn nghiện nên ngày 02/9/2019 Bị cáo Hợp đi đến huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mua ma túy để về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo chia thành 02 gói, trong đó có một gói bọc trong mảnh giấy báo màu trắng xanh bọc nylon bên ngoài và một gói bỏ trong mảnh giấy bạc thuốc lá màu trắng. Đến 17giờ 00 phút ngày 04/9/2019 Hợp mang theo 2 gói heroine cất giấu trong người và nhờ bạn tên Lưu chở đến nhà Lâm Văn Quân, đến khoảng 21giờ 00 phút cùng ngày thì Hợp lấy 02 gói heroine trong túi quần Jean đang mặc để lên bàn và rủ Quân, Phú, Chu cùng sử dụng. Quân đồng ý cho tất cả mọi người cùng sử dụng ma túy tại nhà mình và dặn đừng để vợ Quân biết. Đến khoảng 09 giờ 45 phút ngày 05/9/2019 Công an huyện Bảo Lâm vào kiểm tra nên mời về công an xã B’Lá để làm việc. Tại Cơ quan Công an Hợp thừa nhận việc cùng nhau sử dụng ma túy và còn cất giấu hêrôin tại nhà vệ sinh nhà Quân đồng thời tự nguyện dẫn Cơ quan Công an về nhà Quân và giao nộp số heroine còn cất giấu. Qua giám định mẫu cục bột đựng trong gói giấy bạc và giấy báo được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,0433g, loại Heroine. Do vậy hành vi của bị cáo Hợp đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Quân đã đủ yếu tố cấu thành tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được ma tuý là chất độc hại, bất kỳ ai vi phạm đến ma tuý, tuỳ tính chất mức độ đều bị xử lý nghiêm nhưng vẫn cố tình vi phạm. Đối với bị cáo Quân biết rằng việc cho nhiều người sử dụng trái phép ma túy tại nhà mình là pháp luật cấm nhưng bị cáo không can ngăn mà còn đồng thuận với những người khác. Do vậy hành vi của các bị cáo phải được nghiêm trị trước pháp luật và phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Quân có 01 tiền án. Tại Bản án số 07/2016/HSST ngày 06/4/2016 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt Lâm Văn Quân 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và buộc nộp 200.000đ án phí HSST; Đến ngày 07/02/2018 chấp hành xong hình phạt chính và 17/5/2016 đã nộp tiền án phí HSST. Tính đến ngày phạm tội mới 04/9/2019 bị cáo chưa được xóa án tích nên áp dụng điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự để xem xét tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Quân.

Xét đề nghị của viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra; đủ để răn đe, phòng ngừa riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn ma túy hiện nay.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo có thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1401/2019, hoàn mẫu m= 1,2761g; 01 phong bì niêm phong số 1401/2019 bao gói; 01 ca nhựa màu trắng có quai, đường kính miệng ca 7,7cm, đường kính đáy 06 cm.

-Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 CMND số 250823300 mang tên Nguyễn Văn H .

Về án phí, lệ phí tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 ( Ba ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2019.

Tuyên bố bị cáo Lâm Văn Quân phạm tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lâm Văn Quân 07 ( Bảy ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1401/2019, hoàn mẫu m= 1,2761g; 01 phong bì niêm phong số 1401/2019 bao gói; 01 ca nhựa màu trắng có quai, đường kính miệng ca 7,7cm, đường kính đáy 06 cm.

-Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 CMND số 250823300 mang tên Nguyễn Văn H .

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hợp và bị cáo Quân mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 06/5/2020 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”.

Cỡ chữ