vanban.org

Bản án 13/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 27/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Cao C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (12-9-2019). Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì ghi số 561/PC09 ngày 18-9-2019, có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Cao C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HS-ST
Ngày: 27-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Rmah HThuyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bắc

2. Bà Trần Thị Lê Na

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Hoàn-Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa-Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:13/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Cao C; Giới tính: Nam; Sinh năm 1980 tại Đăk Lăk.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn 13, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Tiến C (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; Bị cáo có vợ tên là Rcom H và có 01 con sinh năm 2006; Tiền án; Tiền sự: Không; Về nhân thân:

Ngày 10-3-2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Chấp hành án tại Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình. Ngày 01-9-2004, chấp hành xong hình phạt (Bản án này đã được xóa án tích).

Ngày 12-9-2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xét xử tuyên phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Chấp hành án tại Trại giam Đăk Trung, tỉnh Đăk Lăk. Ngày 12-5-2015, chấp hành xong hình phạt (Bản án này đã được xóa án tích).

Bị cáo Trần Cao C bị tạm giữ từ ngày 12-9-2019, sau đó bị tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Ông Nguyễn K-Người chứng kiến. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Cao C là người sử dụng ma túy từ tháng 5/2019. Qua quen biết ngoài xã hội, C biết một người tên H (không rõ nhân thân lai lịch) có sử dụng và bán ma túy. Vào khoảng 07 giờ ngày 12-9-2019, khi đang đi bộ ở khu vực ngã ba giao nhau giữa đường P với đường N, thành phố P, tỉnh Gia Lai, C gặp H nên đã hỏi mua ma túy loại Heroine với giá 500.000 đồng, H đồng ý. Sau đó, H đưa cho C 02 gói giấy, bên trong đều chứa ma túy loại Heroine, C đã đưa cho Hùng 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất giấu vào túi áo để sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, C đi bộ đến trước quán cà phê P ở số 91 đường P, tổ 5, phường Tây Sơn, thành phố P thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Công an phường T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong túi áo C đang mặc 02 gói giấy, bên trong chứa chất màu trắng, dạng cục, bột. Ngoài ra, còn thu giữ của Trần Cao C 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vertu màu vàng-nâu, kèm sim mặt sau có dãy số 08840.20001.09275.71604.

Qua giám định, tại Bản kết luận giám định số 561/KLGĐ ngày 18-9-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng, dạng cục, bột trong 02 (hai) gói giấy trong bì thư niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,2949 gam”.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định và không có ý kiến gì khác.

Tại Bản Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 02 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Cao C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Cao C và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Cao C với mức án từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Đề nghị căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 561/PC09 ngày 18-9-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

Trả lại cho bị cáo Trần Cao C 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vertu màu vàng-nâu, kèm sim mặt sau có dãy số 08840.20001.09275.71604.

Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Cao C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo nhận thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 12-9-2019, tại trước quán cà phê P ở số 91 đường P, tổ 5, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, khi Trần Cao C đang có hành vi cất giấu trong người 0,2949 gam ma túy, loại Heroine, với mục đích sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi tàng trữ 0,2949 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng do bị cáo Trần Cao C thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo Trần Cao C hoàn toàn nhận thức được việc tàng trữ ma túy là trái pháp luật, bị cáo đã từng 02 lần bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng do bản thân có sử dụng ma túy và không có ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ 0,2949 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm của pháp luật tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với tội phạm.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

Chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 561/PC09 ngày 18-9-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vertu màu vàng-nâu, kèm sim mặt sau có dãy số 89840.20001.09275.71604 là tài sản của bị cáo C không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo Trần Cao C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với đối tượng tên H là người đã bán ma túy cho bị cáo C. Do bị cáo C không biết được lai lịch của đối tượng này nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh và xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Cao C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (12-9-2019).

3. Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

-Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì ghi số 561/PC09 ngày 18-9-2019, có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

-Trả lại cho bị cáo Trần Cao C 01 điện thoại Vertu màu vàng-nâu, có bàn phím và sim có ghi dãy số 89840.20001.09275.71604.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-01-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố P).

4. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Cao C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ