- Tranh chấp gì? án hình sự — "249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HS-ST Ngày: 18/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hà
2. Bà Lê Thị Nhớ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2020/QĐXXST–HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
NGUYỄN QUỐC TUẤN K.
Sinh ngày 13/4/19xx tại thành phố Đà Nẵng.
Nơi cư trú: Tổ xx, phường H, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng;
Nghề nghiệp: Nhân viên Ngân hàng.
Trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
- Con ông không rõ và bà Nguyễn Thị Minh Thủy (sinh năm: 1961).
- Tiền án, Tiền sự: Chưa;
Bị cáo tại ngoại. Hiện có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Phạm Thị Thúy A, sinh năm 19xx, trú tại: Số 0x đường C, phường H, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
2/ Bà Ngô Thị M, sinh năm 19xx, trú tại: xx đường N, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
3/ Bà Hồ Thị Minh D, sinh năm 1996, trú tại: xx đường O, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
4/ Bà Phan Thị Hà M, sinh năm 20xx, trú tại: xx đường B, Tp Đà Nẵng. (Vắng mặt)
5/ Bà Lê Thị D, sinh năm 19xx; Trú tại: x đường T, phường Bình Hiên, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
6/ Ông Ngô Tấn T; sinh năm 19xx; Trú tại: Thôn C, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
7/ Ông Lê Thanh P, sinh năm 19xx; Trú tại: Tổ x, thôn N, xã C, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)
8/ Ông Hồ Hồng H, sinh năm 19xx; Trú tại: x đường T, phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
9/ Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 19xx; Trú tại: Tổ xx, phường H, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
10/ Bà Trần Thị Xuân H, sinh năm 19xx và ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 19xx; Trú tại: x đường N, phường X, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 7 năm 2019, Nguyễn Quốc Tuấn K đi dự sinh nhật của một người bạn tại quán Karaoke Không Gian Xưa, đường Điện Biên Phủ, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, bạn của K đưa ma túy thuốc lắc và ma túy khay ra để sử dụng, sau khi sử dụng thì còn dư lại 01 gói ni lông chứa ma túy khay và 03 viên thuốc lắc thì K cất vào ví của mình và đưa về nhằm mục đích sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 14/7/2019, K cùng với Ngô Tấn T, Nguyễn Thanh H, Lê Thanh P, Hồ Hồng H ngồi ăn uống tại quán Mạnh Triều, đường Điện Biên Phủ, thành phố Đà Nẵng. Đến 20 giờ 30 phút, cùng ngày, cả 05 người cùng rủ nhau đến quán karaoke Chợt Nhớ để hát Karaoke; sau khi vào phòng của quán Karaoke Chợt Nhớ thì cả nhóm thống nhất gọi 05 nhân viên phục vụ của quán là Phạm Thị Thúy A, Hồ Thị Diệu M, Lê Thị D, Ngô Thị M, Phan Thị Hà M để cùng hát karaoke. Một lúc sau K lấy 03 viên ma túy thuốc lắc ra cùng ma túy Ketamin đổ ra trên đĩa sứ cho mọi người cùng sử dụng.
Lúc 02 giờ 00 phút ngày 15/07/2019, Đội cảnh cát điều tra tội phạm về Ma túy phối hợp với Đội cảnh sát hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà nẵng tiến hành kiểm tra tại phòng 303 của Karaoke Chợt Nhớ phát hiện bắt quả tang, thu giữ:
- Chất bột màu trắng trên dĩa sứ thu giữ bỏ vào trong 01 bao ni lông kích thước 04 cm x 07 cm được niêm phong trong bì thư ký hiệu G;
- 01 dĩa sứ màu trắng;
- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn thành hình ống.
Tại thời điểm bắt quả tang, trong phòng 303 quán karaoke Chợt Nhớ có 10 đối tượng đang hát karaoke gồm: Nguyễn Quốc Tuấn K, Ngô Tấn T, Nguyễn Thanh H, Lê Thanh P, Hồ Hồng H, Phạm Thị Thúy A, Hồ Thị Diệu M, Lê Thị D, Ngô Thị M, Phan Thị Hà M.
Qua thử test phát hiện Nguyễn Quốc Tuấn K, Ngô Tấn T, Nguyễn Thanh H, Lê Thanh P, Hồ Hồng H, Phạm Thị Thúy A, Hồ Thị Diệu M, Lê Thị D, Ngô Thị M, Phan Thị Hà M đều dương tính với chất ma túy, riêng Nguyễn Thanh H âm tính với chất ma túy.
Theo bản kết luận giám định số 220/GĐ-MT, ngày 01 tháng 8 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Tinh thể rắn màu trắng trong 01 gói nylong ký hiệu G gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và Ketamine khối lượng mẫu tinh thể: 0,380 gam.
Bản kết luận giám định số 826/C09C(DD4), ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng- Viện khoa học hình sự kết luận: Chất màu trắng (dạng tinh thể) đựng trong túi gói nylong không màu, miệng túi có viền màu đỏ (ký hiệu G) gửi giám định là hàm lượng Methamphetamine là 39,95% và hàm lượng Ketamine là 38,83%.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSTK ngày 30/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và:
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Tuấn K mức án từ 12 đến 18 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 826/C09C ngày 23/8/2019, có đóng dấu giáp lai của Phân viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng; 01 (một) dĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật bên trên có in chữ karaoke Chợt Nhớ.
- Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Quốc K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Lúc 02 giờ 00 phút ngày 15/07/2019, tại phòng 303 quán karaoke Chợt Nhớ, số 543 Nguyễn Tất Thành, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy phối hợp với Đội Cảnh sát hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra tại phòng 303 của karaoke Chợt Nhớ phát hiện bắt quả tang Nguyễn Quốc Tuấn K có hành vi tàng trữ trái phép 0,15181 gam ma túy Methamphetamine và 0,147554 gam ma túy Ketamine mục đích để sử dụng.
Bản kết luận giám định số 220/GĐ-MT ngày 01 tháng 8 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:
“Tinh thể màu trắng trong 01 gói ni lông niêm phong kí hiệu G gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và Ketamine khối lượng tinh thể: 0,380 gam.”
Theo bản kết luận giám định số 826/C09C(DD4) ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng - Viện khoa học hình sự kết luận:
“Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) đựng trong túi ni lông không màu, miệng túi có viền màu đỏ (kí hiệu G) gửi giám định có hàm lượng Methamphetamine là 39,95%; hàm lượng Ketamine là 38,83%”.
Khối lượng ma túy Methamphetamine Nguyễn Quốc Tuấn K tàng trữ là: (0,380 x 39,95)/100 = 0,15181 gam. Khối lượng ma túy Ketamine Nguyễn Quốc Tuấn K tàng trữ là: (0,380 x 38,83)/100 = 0,147554 gam. Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Quốc Tuấn Kiệt tàng trữ trái phép là: (0,15181/5)x100% + (0,147554/20)x100% = 3,73% < 100%. Theo hướng dẫn tại điểm b, khoản 2 Điều 5 chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự.
Do đó, hành vi trên của bị cáo Nguyễn Quốc Tuấn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo K phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc tình tiết định khung là “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 10/CT-VKSTK ngày 30/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo nhận thức rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân nên bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và xâm phạm sức khoẻ cũng như sự phát triển bình thường giống nòi của dân tộc, đã làm cho một bộ phận thanh thiếu niên suy đồi phẩm chất, lối sống. Đây là loại tội phạm gây nguy hại lớn, bởi đó là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn xã hội, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Chính tác hại đó mà pháp luật nghiêm cấm và nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có nhân thân tốt, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với Ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 826/C09C ngày 23/8/2019, có đóng dấu giáp lai của Phân viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng. Hội đồng xét xử thấy đây là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ.
- Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn thành hình ống dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ;
- 01 (một) dĩa sứ màu trắng, Hội đồng xét xử xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ;
- 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật bên trên có in chữ karaoke Chợt Nhớ, Hội đồng xét xử xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ.
Hiện tất cả vật chứng và tài sản trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đối với Nguyễn Quốc Tuấn K, Ngô Tấn T, Lê Thanh P, Hồ Hồng H, Phạm Thị T, Hồ Thị Diệu M, Lê Thị D, Ngô Thị M, Phan Thị Hà M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với đối tượng cung cấp ma túy cho Kiệt do chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau. Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc Tuấn K 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 826/C09C ngày 23/8/2019, có đóng dấu giáp lai của Phân viện khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng; 01 (một) dĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật bên trên có in chữ karaoke Chợt Nhớ.
- Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ theo biên lai 007281 ngày 30/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 12 năm 2019).
*Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Quốc Tuấn K phải chịu 200.000đ.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND quận Thanh Khê; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê; - Viện KSND thành phố Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT - Công an quận Thanh Khê; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Thanh Khê; - Trại tạm giam – Công an thành phố Đà Nẵng; - Bị cáo - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Huyền Trân |