- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trương Văn C phạm tội :"Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP.ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2020/HS-ST Ngày 14-5- 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Đức Hiếu
Bà Nguyễn Thị Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵngtham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 3năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số13/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Trƣơng Văn C; sinh ngày 15 tháng 01 năm 1998 tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện Th, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương H(sinh năm :1970) và Bà Nguyễn Thị Thúy Ph (sinh năm :1975); Cả 02 đều còn sống; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con đầu; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị bắt, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2019. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Nguyễn Thị Thúy Ph, sinh năm: 1975. Trú tại: Thôn X, Xã B, huyện Th, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
+ Ông Nguyễn Song H, , sinh năm: 1997. Trú tại: Thôn Ch, xã B, huyện Th, tỉnh Quảng Nam. (Có Đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 19/12/2019, bị cáo Trương Văn C điều khiển xe môtô hiệu Exciter biển kiểm soát 92H1-454.20 đến nhà Nguyễn Song H(sinh năm 1997; trú Ch, B, Th, Quảng Nam) rủ H đi từ Quảng Nam ra Đà Nẵng mua ma túy sử dụng chung, H nói không có tiền góp, bị cáo Cnói tự bỏ tiền mua và cho H sử dụng cùng, H đồng ý. Khi ra Đà Nẵng, bị cáo Cchở H đến khu vực công viên 29/3, bảo H đứng ngoài đợi còn bị cáo Cmột mình đi vào công viên, mua ma túy Heroin của một người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi mua được ma túy, bị cáo Cchở H đến nhà vệ sinh trong khu vực công viên Thanh Niên thuộc phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, bị cáo Clấy một ít ma túy ra sử dụng chung với H, số còn lại bị cáo Ccất giữ tại túi trong bên trái áo khoác thì bị Cơ quan Cơ quan Csát điều tra Công an quận Cẩm Lệ bắt quả tang. Tiến hành kiểm tra, tạm giữ: 01 gói ni-lon kích thước khoảng 3cm x 5,5cm bên trong có giấy bạc màu vàng bọc chất bột màu trắng (Ckhai nhận là ma túy Heroin của Csau khi sử dụng cùng với H còn lại), được niêm phong, ký hiệu KT01; 01 xe môtô biển kiểm soát 92H1-454.20.
Bản kết luận giám định số 06/GĐ-MT ngày 24/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất bột màu trắng trong gói giấy bạc để trong túi ni-lon kích thước khoảng 5,5cm x 3cm ký hiệu KT01 gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,249 gam.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKSCL ngày 11 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trương Văn C về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12đến 15tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật TTHS tuyên:
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy đối với 0,183 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói mẫu, xét thấy đây là chất cấm lưu hành.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, bị cáo xin hứa với HĐXX bị cáo sẽ phấn đấu rèn luyện trở thành công dân tốt, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở khẳng định: Vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 19/12/2019, tại nhà vệ sinh trong khu vực công viên Thanh Niên thuộc phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Trương Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,249 gam(Không phẩy hai bốn chín gam) chất ma túy, loại Heroin thì bị bị Cơ quan Csát điều tra Công an quận Cẩm Lệ phát hiện bắt quả tang.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trương Văn Cphạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt đươc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHSnhư kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Chỉ vì lợi ích bản thân mà bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật, lao vào con đường phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, góp phần gieo rắc những tiềm ẩn bệnh tật, làm suy thoái giống nòi dân tộc nên cần phải xử phạt thích đáng, cách ly bị cáora ngoài xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo giáo dục, đồng thời để răn đe làm gương cho người khác.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Trương Văn C, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Đối với Nguyễn Song Hkhi được bị cáo Crủ ra Đà Nẵng, H đã biết bị cáo Crủ đi mua ma túy để cùng sử dụng với nhau nhưng H không có tiền nên không góp chung. Mặt khác, số ma túy tạm giữ tại túi trong bên trái áo khoác bị cáo Cđang mặc là của bị cáo Cnên không có đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Song H, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở nên HĐXX không đề cập xem xét.
Đối với người thanh niên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Cảnh, do không xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, xử lý sau là có cơ sởnên HĐXX không đề cập xử lý.
Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 0,183 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói mẫu, xét thấy đây là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe môtô hiệu Exciter biển kiểm soát 92H1-454.20 có số khung 0610GY345334, số máy G3D4E362442, qua xác minh, xác định chị Nguyễn Thị Thúy Phlà mẹ ruột của bị cáo Trương Văn C đứng tên chủ sở hữu. Chị Phkhông biết bị cáo Cmượn xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho Chị Phlà phù hợpnên HĐXX không đề cập xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2/ Về căn cứ điều khoản và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 19 tháng 12 năm 2019).
3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 0,183 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói mẫu, xét thấy đây là chất cấm lưu hành.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2020 giữa công an quận quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).
4/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5/Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn trên kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP. Đà Nẵng; - VKSND quận Cẩm Lệ; - Công an quận Cẩm Lệ; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Hai HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |