vanban.org

Bản án 13/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 10/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bế Văn V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Bế Văn V 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2019. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Văn V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bế Văn V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HS-ST
Ngày 10 - 3 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Hồng Vinh;

Bà Hoàng Thị Len.

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông La Đăng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Bế Văn V; tên gọi khác: Không, sinh ngày 27 tháng 6 năm 1994, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Văn C và bà Lăng Thị H; chưa có vợ, con; tiền sự: Không, tiền án: Không, nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2019 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Bế Văn C, sinh năm 1960, trú tại: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Anh Bế Văn P, sinh năm 1994, trú tại: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Nông Văn L, sinh năm 1988. Vắng mặt;

2. Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1995. Vắng mặt;

3. Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989. Vắng mặt;

5. Anh Đinh Văn T, sinh năm 1991. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 24/11/2919, Tổ công tác Công an huyện Tràng Định và Ban Công an xã T phối hợp với phòng PC04 Công an tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ, tại bãi đỗ xe ô tô phía sau cây xăng dầu N, thuộc thôn B, xã T, huyện Tràng Định, phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn, tàng trữ trái phép chất ma túy, Tổ công tác đã tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra, nam thanh niên đã không chấp hành, điều khiển xe mô tô lao thẳng vào Tổ công tác và Tổ công tác đã kịp thời khống chế bắt giữ đối tượng. Tiến hành kiểm tra phát hiện trên người nam thanh niên có 04 gói nhỏ, chứa chất bột màu trắng. Nam thanh niên khai nhận họ tên Bế Văn V và khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 24/11/2019 điều khiển xe mô tô ra khu vực bãi mộ gần trung tâm y tế huyện Tràng Định mua với 01 nam thanh niên, không biết tên địa chỉ, 02 gói ma túy giá mỗi gói 200.000 đồng, đem về trộn vào nhau, dùng vỏ bao thuốc lá Thủ Đô gói 04 gói và 01 gói dùng giấy in thiếp mời gói lại, mục đích đem 04 gói giấy vỏ bao thuốc lá Thủ Đô đi bán kiếm lợi nhuận và 01 gói giấy in thiếp mời để sử dụng. Sau khi chia xong đã bán cho T không biết họ 01 gói với giá 100.000 đồng, còn 03 gói đem đi bán cho H, hẹn ở bãi xe ô tô cây xăng N, đang trên đường mang ma túy đi bán, thì gặp Công an đang làm nhiệm vụ, khi Tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra đã tăng ga lao vào Tổ công tác để bỏ chạy, nhưng đã bị bắt giữ. Tổ công tác đã đưa Bế Văn V cùng tang vật về trụ sở Công an huyện Tràng Định tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 18 giờ 45 ngày 24/11/2019.

Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: 04 gói chất bột màu trắng (trong đó 03 gói chất bột màu trắng được gói bằng vỏ bảo thuốc lá Thủ Đô màu xanh, 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy in thiếp mời); 01 xe mô tô biển kiểm soát 12T1-070.00; 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Bế Văn C; 01 ví giả da; 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Bế Văn V; 01 điện thoại hiệu Vivo cũ đã qua sử dụng.

Cùng ngày cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Bế Văn V, tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số: 07/KL-PC09, ngày 26/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định, đều là chất ma tuý Heroine, có tổng khối lượng 0,196 gam (đã trừ bì).

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 10/02/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để xét xử bị cáo Bế Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Bế Văn V đã khai nhận hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bế Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Bế Văn V mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 ví giả da màu đen, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe; trả cho ông Bế Văn C 01 xe mô tô và 01 giấy đăng ký xe mô tô; trả cho anh Bế Văn P 01 điện thoại hiệu Vivo. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bế Văn V thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo Bế Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định. Bị cáo Bế Văn V nhiều lần đi xe mô tô ra khu vực bãi mộ gần trung tâm y tế huyện Tràng Định, mua ma túy với 01 nam thanh niên, không biết tên địa chỉ, về chia thành nhiều gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, bị cáo đã bán trái phép chất ma túy nhiều lần cụ thể: Khoảng 20 giờ ngày 20/11/2019 xẻ cho Hoàng Văn D một ít ma túy lấy 100.000 đồng; khoảng 14 giờ ngày 21/11/2019 bán cho Nông Văn L 02 gói với giá 200.000 đồng; khoảng 16 giờ cùng ngày 21/11/2019 bán cho Hoàng Văn H 01 gói với giá 100.000 đồng. Khoảng 15 giờ ngày 24/11/2019 bị cáo tiếp tục ra tại khu vực bãi mộ gần trung tâm y tế huyện Tràng Định, mua ma túy với nam thanh niên 02 gói, mang về chia được 04 gói để bán và 01 gói to để sử dụng, khi chia xong đã bán cho T 01 gói với giá 100.000 đồng, đến khoảng 17 giờ ngày 24/11/2019, bị cáo mang ma túy đi bán cho Hoàng Văn H, thì bị bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo Bế Văn V có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Bế Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tại địa phương và xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, tiếp tay làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo bị nhân dân lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm, khi Tổ công tác đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra, bị cáo không chấp hành, có hành vi chống đối, tăng ga lao xe vào Tổ công tác. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa giáo dục chung. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; về tình tiết tăng nặng: Ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ, là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo không có tài sản gì, sống phụ thuộc gia đình (thể hiện tại biên bản xác minh ngày 04/12/2019). Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Theo bị cáo Bế Văn V khai được mua ma tuý với người thanh niên tại khu vực bãi mộ gần trung tâm y tế huyện Tràng Định. Nhưng bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của người thanh niên trên. Nên cơ quan điều tra không thể tiến hành xác minh làm rõ được.

Đối với ông Bế Văn C, là bố đẻ của bị cáo mua chiếc xe mô tô, phục vụ việc đi lại, bị cáo Bế Văn V lấy xe đi mua bán ma túy, ông Bế Văn C không biết, nên không liên quan.

Đối với anh Bế Văn P cho bị cáo mượn chiếc thoại Vivo, nhưng anh Bế Văn P không biết bị cáo dùng điện thoại liên lạc mua bán ma túy, nên không liên quan.

Tại phiên tòa những người làm chứng anh Nông Văn L, Hoàng Văn D, Hoàng Văn H, Đinh Văn T đều vắng mặt, nhưng trong bản tự khai và các biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra, tất cả đều khẳng định được mua ma túy với bị cáo Bế Văn V để sử dụng trái phép. Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, đã lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo.

Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ “Tang vật thu giữ khi bắt quả tang Bế Văn V ngày 24/11/2019” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 gói giấy đựng tổng cộng 0,149 gam chất ma túy Heroine, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo, là của anh P, nên trả lại cho anh Bế Văn P; đối với 01 ví giả da, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, đều mang tên Bế Văn V, là giấy tờ tùy thân, nên trả lại cho bị cáo; đối với 01 xe mô biển kiểm soát: 12T1-070.00 và 01 đăng ký xe mô tô, là xe của ông Bế Văn C, nên trả lại cho ông Bế Văn C.

Ý kiến Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị mức án đối với bị cáo, xử lý vật chứng, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Bế Văn V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Bế Văn V 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy gồm: Số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ “Tang vật thu giữ khi bắt quả tang Bế Văn V ngày 24/11/2019” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 gói giấy đựng tổng cộng 0,149 gam chất ma túy Heroine.

Trả lại cho bị cáo Bế Văn V gồm: 01 ví giả da màu đen (cũ đã qua sử dụng), 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe hạng A1, đều mang tên Bế Văn V.

Trả cho anh Bế Văn P: 01 điện thoại di động, hiệu Vivo màu đen, cũ đã qua sử dụng.

Trả cho ông Bế Văn C gồm: 01 xe mô tô HONDAWAVE biển kiểm soát: 12T1-070.00, kèm chìa khóa điện và 01 giấy đăng ký xe mô tô của xe mô tô biển kiểm soát: 12T1-070.00.

(Các vật chứng trên được ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/ 02/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Bế Văn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ