- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trọng Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HS-ST Ngày: 20/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Thị Quyên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và bà Đỗ Thị Hồng Nhung;
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2020/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Bùi Trọng Q, sinh ngày 10/10/1988 tại Cần Thơ. HKTT và trú tại: Khu phố A, phường TB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Bùi Trần S (đã chết) và bà Trần Thị Kim N, sinh năm 1963, vợ tên Nguyễn Thị Ngọc O , sinh năm 1988 và 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
*Bị hại: Ông Vũ Xuân N, sinh năm 1960 (đã chết).
*Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1938; bà Đàm Thị S, sinh năm 1961; anh Vũ Xuân L, sinh năm 1987; anh Vũ Văn S, sinh năm 1987; chị Vũ Thị X, sinh năm 1988. Cùng cư trú tại: Xóm TT, xã DT, huyện V N, tỉnh Thái Nguyên. Xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 03/11/2019, Bùi Trọng Q (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô biển số 60C-432.52 lưu thông trên quốc lộ 1 theo hướng TP. BH đi TP. LK. Khi đi đến đoạn có khoảng trống giữa 02 đầu dải phân cách cứng dành cho xe qua đường tại Km 1842 + 300 quốc lộ 1 thuộc ấp N H, xã TH, huyện TB thì Quan bật đèn xi nhan bên trái ra tín hiệu chuyển hướng từ bên phải sang bên trái theo hướng đang lưu thông và đi qua khoảng trống giữa 02 đầu dải phân cách cứng giữa đường để chuyển hướng quay đầu đi về hướng TP. B H. Trong lúc xe ô tô do Q điều khiển chuyển hướng đến làn đường xe hỗn hợp hướng TP. LK đi TP. BH thì hông vè trước bánh xe bên phải của xe ô tô biển số 60C-432.52 va chạm vào bánh trước xe mô tô biển số 20D1-068.08 do ông Vũ Xuân N điều khiển đang lưu thông trên làn đường hỗn hợp theo hướng TP. LK đi TP. B H làm ông N bị thương, được người dân đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Trảng Bom nhưng đã tử vong. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, Q đến Công an huyện Trảng Bom trình diện và khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên
Kết quả giám định pháp y số 382/TT/2019 ngày 29/11/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận nguyên nhân tử vong của ông Vũ Xuân N là do: “Đa chấn thương: Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh chẩm hai bên và mặt đáy thùy thái dương trái; chảy máu màng mềm hai bán cầu đại não, tiểu não; dập xuất huyết cầu não; dập xuất huyết trong nhu mô chất trắng đại não và tiểu não. Chấn thương ngực gây dập phổi hai bên, chảy máu khoang ngực. Nồng độ cồn trong máu: 101,37 mg/100ml”
Trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định được nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do Bùi Trọng Q điều khiển xe ô tô biển số 60C-432.52 chuyển hướng qua đường từ phải qua trái không đảm bảo an toàn dẫn đến va đụng với xe mô tô biển số 20D1-068.08 do ông Vũ Xuân N điều khiển đang lưu thông đúng làn đường làm ông N tử vong.
Về vật chứng và các đồ vật, tài liệu tạm giữ: Xe ô tô biển số 60C-432.52 do Bùi Trọng Q làm chủ sở hữu nhưng nhờ chị Bùi Thị Thúy A đứng tên trên Chứng nhận đăng ký xe, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Quá trình điều tra xác định điện thoại di động hiệu Nokia 1110i màu xám, xe mô tô biển số 20D1-068.08 do ông Vũ Xuân N làm chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình bị hại.
Đối với 01 th nhớ dung lượng 08 b hiệu Sandisk lưu giữ hình ảnh của vụ tai nạn giao thông thu được từ camera giám sát hành trình trong thời gian 22 giờ 00 phút đến 22 giờ 01 phút ngày 03/11/2019, kèm theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Trong quá trình điều tra, Bùi Trọng Q đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 220.000.000 đồng chi phí mai táng, sửa chữa xe mô tô biển số 20D1-068.08. ia đình ông N đã nhận đủ số tiền trên và đã làm đơn bãi nại, cam kết không có yêu cầu gì khác về phần dân sự.
Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKS-TB ngày 10 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Bùi Trọng Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Về tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị có nhân thân tốt vì chưa có tiền án tiền sự, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị hại đã có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự. Trên cở sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bùi Trọng Q từ 12 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm tính từ ngày tuyên án. Đề nghị Tòa tuyên trả lại giấy phép lái xe mô tô cho bị cáo ngay sau khi tuyên án và buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm của mình như đã nêu ở trên, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 03/11/2019 tại Km 1842 + 300 quốc lộ 1 thuộc ấp NH, xã TH, huyện TB, tỉnh Đồng Nai, Bùi Trọng Q (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô biển số 60C-432.52 chuyển hướng qua đường thiếu chú ý quan sát, không đúng quy định, không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên đã va chạm vào xe mô tô biển số 20D1-068.08 do ông Vũ Xuân N điều khiển. Hậu quả vụ tai nạn làm ông N chết. Do đó, có đủ căn cứ kết luận vi phạm nêu trên của bị cáo Bùi Trọng Q đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử vì: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đồng thời bị hại cũng có một phần lỗi điều khiển xe mô tô chạy quá tốc độ và trong tình trạng đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu 101,37mg/100ml). Áp dụng Điều 65 BLHS có căn cứ chấp nhận giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng chế độ án treo là phụ hợp thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
Về dân sự: Đã giải quyết xong, tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì khác nên HĐXX không phải giải quyết.
Trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo ngay sau khi tuyên án.
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Bùi Trọng Q 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.
iao bị cáo Q cho UBND phường Tân Biên, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì UBND xã nơi giám sát có trách nhiệm thông báo cho cơ quant hi hành án hình hình sự để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho UBND các xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để thực hiện việc giám sát, giáo dục theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng chế độ án treo cố ý vi phạm 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo;
2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại giấy phép lái xe số 750104006726 do Sở giao thông vận tải Đồng Nai cấp ngày ngày 10/7/2015 cho bị cáo Bùi Trọng Q ngay sau khi tuyên án.
3. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Trọng Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; - VKSND huyện Trảng Bom; - Công an huyện Trảng Bom; - Chi cục THADS huyện Trảng Bom; - UBND cấp xã nơi b/c cư trú; - Sở Tư pháp; - TAND tỉnh; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Trịnh Thị Quyên |