- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C đều phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C đều phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 13/2020/HS-ST Ngày 28-4-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hạng A Sáng và ông Thùng Văn Liên
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
1. Hạng Thị T, sinh năm 1975 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Hạng Seo T, đã chết; Con bà: Vừ Thị S, sinh năm 1943.
Bị cáo có chồng Giàng A C, sinh năm 1974 và 07 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2009. Giàng A C là bị cáo trong cùng vụ án.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo không có án tích, không bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/10/2019, tạm giam ngày 30/10/2019, có mặt.
2. Giàng A C, sinh năm 1974 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Giàng A P, sinh năm 1955.
Con bà: Hạng Thị P, sinh năm 1955.
Bị cáo có vợ Hạng Thị T, sinh năm 1975 và 07 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2009. Hạng Thị T là bị cáo trong cùng vụ án.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo không có án tích, không bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Đảng phái: Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 31/10/2019
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/10/2019, tạm giam ngày 30/10/2019, có mặt.
* Ngƣời bào chữa cho bị cáo Hạng Thị T: Ông Bùi Đình M, Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
* Ngƣời phiên dịch cho bị cáo Hạng Thị T: Vàng A P, sinh năm 1990, địa chỉ bản C, xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20 tháng 10 năm 2019, có một người đàn ông dân tộc Dao đến nhà Hạng Thị T, Giàng A C xin ăn cơm và ngủ nhờ qua đêm. Ăn cơm, uống nước xong, người đàn ông hỏi C và T có mua thuốc không. C nói không có tiền mua, Hạng Thị T nói mắt của T đang đau, có bán lẻ không thì T mua 350.000 đồng làm thuốc. Người đàn ông nhất trí rồi lấy ở trong túi áo bên trái trước ngực ra một gói ni lông màu xanh và đếm viên nén màu hồng cho vào túi ni lông màu xanh đưa cho T. Sau khi bị cáo T trả tiền xong thì người đàn ông tiếp tục đếm viên nén màu hồng cho vào túi ni lông màu hồng đưa cho bị cáo. Hạng Thị T cầm lấy gói viên nén đó đưa cho Giàng A C cất giữ. Sau đó người đàn ông đi ngủ, đến sáng ngày 21/10/2019, người đàn đó đi đâu hai vợ chồng T, C không biết. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày thì Hạng Thị T và Giàng A C bị tổ công tác Công huyện N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 08/CT-VKSNP ngày 05/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C mỗi bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Hạng Thị T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Các bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N và luận cứ bào chữa của Luật sư.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 12 giờ 20 phút ngày 21/10/2019 bút lục 01, 02 chứng minh các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an huyện N, tỉnh Điện Biên tạm giữ của các bị cáo 02 gói, mở bên trong gói ni lông màu xanh có 57 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh. Mở bên trong gói ni lông màu hồng có 25 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh. Các viên nén đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 15 giờ 00 phút ngày 23/10/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N bút lục số 61, 62 khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C là 8,28 gam viên nén màu hồng, trích mẫu gửi giám định 0,4 gam và 0,3 gam viên nén màu xanh, trích mẫu gửi giám định 0,2 gam.
Kết luận giám định số 990/GĐ-PC09 ngày 30/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 66 thì 02 mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Hạng Thị T và Giàng A C gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine; Không tìm thấy chất ma túy trong 02 mẫu viên nén màu xanh thu giữ của Hạng Thị T và Giàng A C gửi giám định. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, mục IIC danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C có tội. Các bị cáo đã mua Methamphetamine tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định các bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp và đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng ma túy bị thu giữ của Hạng Thị T và Giàng A C là 8,28 gam Methamphetamine. Khối lượng ma túy mà các bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 05 gam đến dưới 30 gam. Bị cáo Hạng Thị T là người khởi xướng ra việc mua ma túy và tàng trữ để sử dụng do vậy vai trò của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với Giàng A C. Bị cáo C là người giúp sức cho bị cáo T trong việc cầm hộ gói ma túy bị cáo T đưa cho. Bị cáo biết được Hạng Thị T mua ma túy cũng như biết được các gói ma túy mà T mua được để sử dụng. Với loạt hành vi gắn liền ý thức chủ quan của bị cáo C thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trên tổng số khối lượng ma túy thu được của cả hai bị cáo. Tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng và các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 5 năm đến 10 năm tù.
Về nhân thân của các bị cáo:
Các bị cáo sinh ra và lớn lên ở huyện B, tỉnh Lào Cai. Năm 1997, gia đình các bị cáo cùng gia đình chuyển đến sinh sống tại bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên. Cả hai bị cáo là vợ chồng trong gia đình, bị cáo Giàng A C là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam nhưng không nêu gương để gia đình tuân theo pháp luật. Tuổi đời các bị cáo đã cao nhưng do các bị cáo nghiện chất ma túy nhiều năm bị cáo không từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính mà các bị cáo phải nhận một bản án không đáng có.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 thì các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Hạng Thị T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho các bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, các bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Hạng Thị T và Giàng A C.
Về vật chứng:
Vật chứng của vụ án là 8,28 gam viên nén màu hồng, trích mẫu gửi giám định 0,4 gam và 0,3 gam viên nén màu xanh, trích mẫu gửi giám định 0,2 gam không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng là 02 túi vải nhiều hoa văn có dây đeo, đã cũ các bị cáo dùng để đựng ma túy tổng hợp. Các vật chứng này tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các vấn đề khác:
Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ các bị cáo khai mua của một đàn ông dân tộc Dao không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có đủ cơ sở để làm rõ đối tượng. Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C đều phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Hạng Thị T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 21/10/2019.
- Xử phạt bị cáo Giàng A C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 21/10/2019.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 8,28 gam viên nén màu hồng, trích mẫu gửi giám định 0,4 gam không hoàn lại đối tượng giám định, vật chứng còn lại 7,88 gam. Tịch thu tiêu hủy 0,3 gam viên nén màu xanh, trích mẫu gửi giám định 0,2 gam không hoàn lại đối tượng giám định, vật chứng còn lại 0,1 gam. Vật chứng được đựng trong 01 phong bì niêm phong của Công an huyện N có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 16 giờ 30 phút ngày 09/3/2020 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.
- Tịch thu tiêu hủy 02 túi vải nhiều hoa văn có dây đeo, đã cũ được đựng trong 01 hộp cát tông có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 16 giờ 30 phút ngày 09/3/2020 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho các bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo Hạng Thị T và Giàng A C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 28/4/2020.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện N; - UBKT Huyện ủy N; - Nhà tạm giữ Công an huyện N; - Cơ quan CSĐT Công an huyện N; - Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Các bị cáo, Luật sư bào chữa; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |