- Tranh chấp gì? án hình sự — "Linh Văn N - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Linh Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HS-ST Ngày 28 - 02 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Thị Hương Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phùng Thị Thu.
Bà Hoàng Thị Lá.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Mã Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS, ngày 14 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Linh Văn N, sinh ngày 30/9/1982 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Khu T, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Linh Văn T (đã chết) và bà Nông Thị L; có vợ Vi Thu H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự và xử lý vi phạm hành chính; trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là Đảng viên sinh hoạt tại Chi bộ X, C, Lạng Sơn, trực thuộc Đảng bộ xi măng T, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 21/02/2020; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Bị hại: Ông Phùng Văn Đ (đã chết);
Đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Tiến Thị D, sinh năm 1929 (là mẹ đẻ của bị hại); nơi cư trú: Thôn M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969 (là vợ của bị hại); nơi cư trú: Thôn M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
3. Chị Phùng Thị H, sinh năm 1992 (là con gái của bị hại); nơi cư trú: Thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
4. Anh Phùng Văn H, sinh năm 1995 (là con trai của bị hại); nơi cư trú: Thôn M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Hứa Văn A; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 23/9/2019 Linh Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K6 -1587 từ nhà đến cơ quan tại thôn C, thị trấn C trên tuyến đường quốc lộ 1A. Khi đến KM 62 + 600 quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn P, thị trấn C, huyện C gặp ông Hứa Văn A và ông Phùng Văn Đ đang đi bộ phía trước cùng chiều với xe của bị cáo. Ông Hứa Văn A đi sát mép đường bên phải, ông Phùng Văn Đ đi phía bên trái ông Hứa Văn A , sát với vạch kẻ sơn màu trắng phân chia đường dành cho xe cơ giới với phần đường dành cho xe thô sơ và bộ hành. Khi bị cáo Linh Văn N điều khiển xe mô tô vượt bên trái ông Phùng Văn Đ đã va chạm với ông Phùng Văn Đ. Hậu quả ông Phùng Văn Đ bị thương được đưa đi cấp cứu; đến ngày 02/10/2019 thì chết; xe mô tô bị hư hỏng nặng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 88/2019/TT, ngày 17/10/2019 của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận: Nguyên nhân chết của ông Phùng Văn Đ do chấn thương sọ não vùng kín, vỡ xương hộp sọ, dập não, tụ máu não do tương tác với vật tày có lực quán tính.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chi Lăng số 43/KL-HĐĐGTS, ngày 31/10/2019 kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 12K6 – 1587 là 1.070.000 đồng (một triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).
Tại Bản giám định kỹ thuật số: 103/GĐKT-ĐK, ngày 30/10/2019 của Công ty Cổ phần Đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn kết luận trước khi xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 12K6 -1587 các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Căn cứ sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, biên bản khám nghiệm phương tiện và các chứng cứ đã thu thập được xác định đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường phẳng màu vàng, hai bên lề đường có vạch kẻ sơn đứt quãng màu trắng. Phần đường dành cho xe thô sơ và bộ hành, bên phải hướng Lạng Sơn – Hà Nội rộng 1m55, bên trái rộng 1m40. Xác định khu vực va chạm là đầu vết số 01 nằm ở phía bên phải đường hướng Lạng Sơn – Hà Nội cách mép đường bên phải 1m15. Xác định lỗi trong vụ tai nạn giao thông là do Linh Văn N điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát, không thực hiện việc giảm tốc độ đến mức an toàn khi có chướng ngại vật trên đường.
Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Linh Văn N đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Phùng Văn Đ số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Gia đình nạn nhân Phùng Văn Đ cam kết không còn khiếu kiện gì về vụ tai nạn và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Linh Văn N.
Tại Bản cáo trạng số: 19/CT-VKSCL, ngày 14/02/2020 đã truy tố bị cáo Linh Văn N về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Linh Văn N đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã khai tại cơ quan điều tra; người đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị C, anh Phùng Văn H khai: Sau khi tai nạn xảy ra, bị hại ông Phùng Văn Đ đã được bị cáo Linh Văn N đưa đi cấp cứu và điều trị tuy nhiên do vết thương nặng nên đã tử vong. Hai bên gia đình đã tự thỏa thuận bồi thường xong, tại phiên tòa hôm nay, gia đình không có không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Bản cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Linh Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các 50, 65 Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Đề nghị xử phạt bị cáo Linh Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Linh Văn N và gia đình nạn nhân Phùng Văn Đ đã thỏa thuận bồi thường số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng và bị cáo đã bồi thường xong.
Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 giấy phép lái xe số Z247507 mang tên Linh Văn N cho bị cáo. Xác nhận quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng đã trả lại cho bị cáo Linh Văn N 01 xe mô tô biển kiểm soát 12K6 – 1587 loại xe nữ, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn đỏ bạc và giấy đăng ký xe.
Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Linh Văn N đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phương tiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cụ thể: Khoảng 05 giờ 15 phút ngày 23/9/2019 tại KM 62 + 600 quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn P, thị trấn C, huyện C, Linh Văn N điều khiển mô tô biển kiểm soát 12K - 1587 thiếu chú ý quan sát, không thực hiện việc giảm tốc độ đến mức an toàn khi có chướng ngại vật trên đường theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 nên đã va chạm với ông Phùng Văn Đ đang đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả: Ông Phùng Văn Đ tử vong. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Linh Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Cáo trạng số 19/CT-VKSCL ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Linh Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Linh Văn N là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển được việc làm của bản thân, bị cáo được cấp giấy phép lái xe mô tô theo đúng quy định tuy nhiên vì chủ quan không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông mà bị cáo đã gây ra tai nạn và hậu quả làm ông Phùng Văn Đ tử vong, chính vì vậy bị cáo Linh Văn N phải chịu một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[5] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Cụ thể như sau:
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Linh Văn N thành khẩn và ăn năn hối cải, sau khi sự việc xẩy ra, bị cáo cũng đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Linh Văn T được chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang. Do đó bị cáo Linh Văn N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tình tiết tăng nặng: Không có.
[7] Xét thấy bị cáo Linh Văn N là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với với bị cáo vì bị cáo vô ý phạm tội.
[8] Về bồi thường dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Linh Văn N đã bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình bị hại là ông Phùng Văn Đ số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[9] Về vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe môt tô mang tên Linh Văn N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[10] Về án phí: Do bị cáo Linh Văn N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Linh Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Linh Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/02/2020. Giao bị cáo Linh Văn N cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Linh Văn N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về bồi thường dân sự: Ghi nhận tự sự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Linh Văn N và gia đình bị hại về việc bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu đồng).
4. Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 giấy phép lái xe số z247507 mang tên Linh Văn N cho bị cáo Linh Văn N.
(theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Chi Lăng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chi Lăng ngày 24/02/2020).
5. Về án phí: Bị cáo Linh Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự để sung công quỹ Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Cơ quan THAHS Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hương Giang |