vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đào Văn H. 2/ Về con chung: Giao cháu Đào Thị Kim N (sinh ngày 29/12/2013) cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Đào Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con (do chị L không có yêu cầu). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L-Đào Văn H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2020/HNGĐ-ST
Ngày 17-6-2020
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG- TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hùng Em.

Bà Nguyễn Thị Ánh Gương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2020/TLST-HNGĐ ngày 02/3/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2020/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1995.

Địa chỉ: khu phố P, phường T, TX. T, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Anh Đào Văn H, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Chị L có mặt tại phiên tòa. Anh H vắng mặt tại phiên tòa (lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh H chung sống từ năm 2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 16/10/2014. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu rất hạnh phúc, tuy nhiên sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cự cãi và vợ chồng đã ly thân từ tháng 12/2019 cho đến nay.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đào Văn H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị L và anh H có 01 con chung là Đào Thị Kim N (sinh ngày 29/12/2013). Hiện nay, cháu N đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh Đào Văn H vắng mặt tại phiên tòa.

Theo bản tự khai ngày 18 tháng 3 năm 2020 anh H trình bày: anh và chị L được gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Khoảng tháng 12/2019 tình cảm giữa anh và chị L không hòa hợp nên anh chị đã ly thân cho đến nay. Trong quá trình chung sống, anh và chị L có 01 người con chung là Đào Thị Kim N (sinh ngày 29/12/2013). Sau khi sinh thì cháu N do mẹ ruột anh nuôi dưỡng. Đối với việc chị L yêu cầu được nuôi con chung anh không đồng ý. Về tài sản chung và nợ chung anh trình bày không có.

Theo biên bản lấy lời khai thì anh H trình bày do còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến nhƣ sau:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đều chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì về phần tố tụng. Riêng bị đơn anh Đào Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia phiên tòa là thực hiện không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Trong quá trình thu thập chứng cứ: Ngoài các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp thì trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của đương sự, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Xét việc chị Nguyễn Thị L khởi kiện xin ly hôn là vụ án dân sự và bị đơn anh Đào Văn H hiện nay đang trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án nhân dân huyện Tam Nông giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Bị đơn anh Đào Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên xét xử vắng mặt anh H là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị L có đơn xin ly hôn với anh H và yêu cầu được nuôi con chung, tài sản chung không có, nợ chung không có nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị L và anh H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 16/10/2014. Do đó hôn nhân giữa chị L và anh H là hợp pháp.

Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu cũng rất hạnh phúc tuy nhiên sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường xuyên cãi nhau về chuyện tiền bạc, tình cảm và vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay vẫn không tự hàn gắn lại được. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã nhiều lần động viên nhưng chị L vẫn cương quyết xin ly hôn với anh H.

Mặt khác, từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H biết nhưng anh H chỉ đến Tòa án nộp bản tự khai, không tham gia các buổi hòa giải, công khai chứng cứ, tại phiên tòa anh H vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng minh anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị L.

Xét thấy hôn nhân của vợ chồng anh chị ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị L là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị L và anh H có một con chung là Đào Thị Kim N (sinh ngày 29/12/2013). Hiện nay, cháu N đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu cấp dưỡng.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh H có văn bản trình bày ý kiến là cháu N từ khi sinh ra đã được mẹ ruột anh nuôi dưỡng, đến cuối năm 2019 (âm lịch) thì mới về sống chung với chị L. Do giữa mẹ anh và cháu nội đã có tình cảm với nhau nên anh không đồng ý giao cháu N cho chị L nuôi dưỡng.

Xét thấy từ khi anh chị ly thân đến nay, cháu N sống với chị L, anh H không có mặt tại phiên tòa để cung cấp các chứng cứ chứng minh cho việc giao cháu N cho anh nuôi dưỡng là tốt nhất cho cháu. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống, quyền lợi mọi mặt của cháu N, căn cứ vào Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu N cho chị L nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị L không yêu cầu nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị L và anh H đều trình bày không có.

Về nợ chung: Chị L và anh H đều trình bày không có.

Tóm lại, từ những nhận định trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đào Văn H.

2/ Về con chung: Giao cháu Đào Thị Kim N (sinh ngày 29/12/2013) cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Đào Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con (do chị L không có yêu cầu).

Anh Đào Văn H được quyền đến thăm nom và chăm sóc cháu Đào Thị Kim N, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.

3/ Về tài sản chung: Không có.

4/ Về nợ chung: Không có.

5/ Về án phí:

Chị Nguyễn Thị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số BH/2018/0005908, quyển số 0000119 ngày 02 tháng 3 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Anh Đào Văn H không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ