vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Phương đối với chị Nguyễn Thị Mận.

Về con chung: Giao anh Nguyễn Văn Phương tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung Nguyễn Thị Hồng Phấn sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Thị Cẩm Tú sinh ngày 03/6/2008 đến đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị Mận có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Phương đối với chị Nguyễn Thị Mận.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22-5-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Diền

2. Ông Lâm Kim Mến

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 43/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2020; Thông báo dời ngày xét xử số 105/2020/TB-TA ngày 01/4/2020; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 123/2020/TB-TA ngày 28/4/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn văn Phương, sinh năm 1981

Địa chỉ: Số 54, ấp Hòa Nhạn, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mận, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số 54, ấp Hòa Nhạn, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn Phương đề ngày 11 tháng 02 năm 2020 và lời khai tại phiên tòa có nội dung sau:

Anh Nguyễn Văn Phương và chị Nguyễn Thị Mận hai người chung sống với nhau năm 2005, đến năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 37-2010, quyền số 01 đăng ký ngày 05 tháng 8 năm 2010.

.

Thời gian chung sống anh Phương và chị Mận có hai người con chung là Nguyễn Thị Hồng Phấn, sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Thị Cẩm Tú sinh ngày 03/6/2008, hiện các con đang sống với anh Phương.

Về tài sản chung và nợ chung, anh Phương xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung.

Anh Phương cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do tính tình vợ chồng không hợp thường bất đồng ý kiến trong cuộc sống. Vợ anh thường bỏ nhà đi không quan tâm đến gia đình, không lo cho chồng con và anh đã nhiều lần gọi vợ anh về nhưng vợ anh không về và vợ chồng anh hai người sống ly thân nhau từ tháng 10/2019 đến nay, trong thời gian sống ly thân anh và vợ anh cũng không có biện pháp gì để hàn gắn hàn gắn vợ chồng trở lại.

Tại phiên tòa hôm nay anh Phương yêu cầu được ly hôn chị Mận. Khi ly hôn, anh Phương yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung là Nguyễn Thị Hồng Phấn và Nguyễn Thị Cẩm Tú đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị Mận phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung anh Phương xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phương thì chị Mận đã được Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và thông báo triệu tập chị Mận đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị Mận không đến Toà án hòa giải mà gửi cho Tòa án đơn xin vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử. và chị Mận đồng ý ly hôn theo yêu cầu của Phương, về con chung chị đồng ý giao cho anh Phương nuôi hai con chung Nguyễn Thị Hồng Phấn và Nguyễn Thị Cẩm Tú và chị không cấp dưỡng nuôi con. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do anh Phương cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 1,3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn Phương được quyền ly hôn với chị Nguyễn Thị Mận.

Về con chung, tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Hồng Phấn sinh ngày 03/10/2006 và cháu Nguyễn Thị Cẩm Tú sinh ngày 03/6/2008 cho anh Phương được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và chị Mận được quyền thăm nom con không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tuyên án phí theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn Phương khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Mận và hiện nay chị Mận cư trú tại số 54, ấp Hòa Nhạn, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy chị Mận đã được triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng do hiện nay chị đi làm ăn xa không có điều kiện tham gia hòa giải được và chị Mận có đơn xin vắng mặt tại các phiên hòa giải cũng như phiên xét xử đến khi kết thúc vụ kiện nên vụ án không hòa giải được phải đưa ra xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị Mận.

Về nội dung: Anh Nguyễn Văn Phương và chị Nguyễn Thị Mận chung sống với nhau từ năm 2005, đến năm 2010 làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 37-2010, quyền số 01 đăng ký ngày 05 tháng 8 năm 2010 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét lý do yêu cầu xin ly hôn của anh Phương, Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn anh Phương và chị Mận sống hạnh phúc được thời gian trên 10 năm, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thể hiện chị Mận thiếu quan tâm chăm sóc gia đình thường bỏ nhà đi không quan tâm đến chồng con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải dã với nhau, xét thấy những mâu thuẫn hàng ngày trong gia đình, anh Phương và chị Mận không có biện pháp hòa giải với nhau được mà để cho mâu thuẫn kéo dài không khả năng khắc phục và hiện tại anh Phương và chị Mận hai người không còn sống chung nhau từ tháng 10/2019 đến nay. Cũng trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Mận cũng biết được việc anh Phương yêu cầu ly hôn đối với chị Mận, nhưng chị Mận không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nên chị Mận không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải để tìm biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng trở lại. Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy anh Phương và chị Mận hai người sống ly thân nhau từ tháng 10/2019 đến nay, về tình cảm vợ chồng thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đến mức trầm trọng. Tại phiên tòa anh Phương vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn đối với chị Mận xét thấy yêu cầu trên của anh Phương là cần thiết. Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Phương đối với chị Nguyễn Thị Mận là có căn cứ đúng pháp luật.

Về con chung, anh Phương yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung là Nguyễn Thị Hồng Phấn và Nguyễn Thị Cẩm Tú đến tuổi trưởng thành và chị Mận cũng đồng ý giao con chung là cháu Phấn và cháu Tú cho anh Phương trực tiếp nuôi. Xét thấy việc giao nhận nuôi con chung giữa anh Phương và chị Mận cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Phấn và cháu Tú, các cháu có nguyện vọng được sống với cha khi cha mẹ ly hôn, xét việc giao nuôi con của anh Phương và chị Mận là phù hợp qui định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử ghi nhận việc thỏa thuận giao nuôi con giữa anh Phương và chị Mận. Giao anh Nguyễn Văn Phương tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con Nguyễn Thị Hồng Phấn sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Thị Cẩm Tú sinh ngày 03/6/2008 đến đủ 18 tuổi trưởng thành.

Chị Mận có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phương không yêu cầu chị Mận phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Phương và chị Mận xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; anh Nguyễn Văn Phương phải chịu án phí theo qui định pháp luật là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Các quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016):

Áp dụng Khoản 1 Điều 56, và các Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Phương đối với chị Nguyễn Thị Mận. Anh Nguyễn Văn Phương được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mận

2. Về con chung: Giao anh Nguyễn Văn Phương tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung Nguyễn Thị Hồng Phấn sinh ngày 03/10/2006 và Nguyễn Thị Cẩm Tú sinh ngày 03/6/2008 đến đủ 18 tuổi trưởng thành.

Chị Nguyễn Thị Mận có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mận không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Phương không yêu cầu..

4. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Phương và chị Mận xác định không có và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, anh Nguyễn Văn Phương phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Anh Nguyễn Văn Phương đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000183 ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, được chuyển thu án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ