- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị T yêu cầu không công nhận quan hệ giữa chị và anh Hoàng Mạnh H là vợ chồng"
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HNGĐ-ST Ngày 15/7/2020 “V/v: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng do nam nữ chung sống mà không có đăng ký kết hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG
Với tHnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ Pên toà: Bà Lâm Hạnh Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Quốc Văn Tài và bà Tưởng Thị Thu
Thư ký Toà án: Ông Dương Văn Tiến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá tham gia Pên tòa: Bà Chu Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 158/2020/TLST
- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 về việc: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng do nam nữ chung sống mà không có đăng ký kết hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐST - HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1972
* Bị đơn: Anh Hoàng Hải H, sinh năm 1971 Cùng địa chỉ: Thôn YC, xã YN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
(Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2020, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai và phiên hòa giải ngày 28/5/2020, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Hải H do hai bên tự nguyện tìm hiểu đã tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 nhưng kể từ đó cho đến nay chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới chị T và anh H sống tại thôn Loong Coong (nay là thôn YC), xã YN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc cho đến tháng 7 năm 2019 thì giữa chị T và anh H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không có sự tin tưởng lẫn nhau, nghi ngờ ghen tuông dẫn tới thường xuyên xảy ra cãi, chửi nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không cùng nhau thống nhất được vấn đề kinh tế trong gia đình và anh chị đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2019 cho đến nay. Chị T xác định tình cảm không còn đối với anh H, do anh chị không đăng ký kết hôn nên yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Hoàng Hải H theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh H có 02 con là Hoàng Thị Q, sinh ngày 08/3/1995 và Hoàng Trọng P, sinh ngày 28/8/1993; hiện nay các con đã trên 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và lao động bình thường nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Hải H đã tự thỏa thuận phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Tại nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai, phiên hòa giải ngày 28/5/2020, bị đơn anh Hoàng Hải H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Hải H xác nhận việc anh và chị Nguyễn Thị T qua thời gian tìm hiểu tự nguyện đã về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương. Sau khi cưới anh chị về chung sống tại thôn LC (nay là thôn YC), xã YN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, thời gian đầu anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc cho đến giữa năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống, không tin tưởng nhau và không hòa hợp trong cuộc sống vợ chồng, nhiều lần xảy ra cãi vã, dẫn tới anh chị ly thân từ đó cho đến nay. Anh H nhất trí với việc khởi kiện của chị T và yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ chung sống của anh chị là vợ chồng.
- Về con chung: Anh H xác nhận trong quá trình chung sống giữa anh và chị T có 02 con là Hoàng Thị Q, sinh ngày 08/3/1995 và Hoàng Trọng P, sinh ngày 28/8/1993; hiện nay các con đã trên 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và lao động bình thường nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án và giữ nguyên ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết, không thay đổi hay bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự đều thực hiện đúng quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án: Đề nghị Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39; 143, 144, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX: Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, xác định Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H không có giá trị về pháp lý và không được pháp luật công nhận là vợ chồng; về con chung: các con chung là Hoàng Thị Q và Hoàng Trọng P, hiện nay đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực Hnh vi dân sự và có khả năng lao động nên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung: Chị T và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét; Về nợ chung: Không có. Về án phí: Chị T nhận chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; anh H không phải chịu án phí DSST ly hôn. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.
NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Hoàng Hải H, nhưng anh chị chung sống không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc không công nhận quan hệ vợ chồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng Hải H, có khẩu thường trú tại: xã YN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Hải H vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Hải H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 đến nay không có đăng ký kết hôn. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã xác minh tại UBND xã YN, huyện Chiêm Hóa (nơi chị T và anh H đã sinh sống) xác định chị T và anh H chưa từng làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Như vậy, Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Hải H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình về đăng ký kết hôn. Mối quan hệ của chị T và anh H không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Chị Nguyễn Thị T yêu cầu được chấm dứt mối quan hệ giữa chị và anh Hoàng Hải H, Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Hải H là vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Quá trình sống chung, chị T và anh H có 02 con chung là Hoàng Thị Q, sinh ngày 08/3/1995 và Hoàng Trọng P, sinh ngày 28/8/1993; hiện nay các con đã trên 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và lao động bình thường, do vậy HĐXX không đề cập xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Chị T và anh H đã tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết; do vậy HĐXX không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Không có, HĐXX không đề cập xem xét.
[3] Về án phí: Áp dụng các Điều 143, 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh H không phải chịu án phí.
[4] Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Điều 51, Khoản 2 Điều 53, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T; không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Hải H là vợ chồng.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T nhận chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chị T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa theo biên lai số 0002710 ngày 15/5/2020 nay được chuyển tHnh án phí dân sự sơ thẩm ly hôn (chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND Tỉnh, huyện - Chi cục THA Dân sự; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã YN,huyện Chiêm Hóa, tỉnh TQ; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm hán - Chủ tọa phiên toà Lâm H nh Quỳnh |