vanban.org

Bản án 13/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng bà Nguyễn Thị Đ, ông Hồ Văn C đối với ông Phan Công Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Định - Đạt"
  • Tòa quyết gì? Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C

TÒA ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN C TỈNH TÂY NINH Bản án số: 13/2020/DS-ST Ngày: 05-6-2020 V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản” CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiên Di. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Trần Phúc; 2. Ông Thái Văn Lộc. - Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Nguyên Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên, Kiểm sát viên. Trong ngày 07 tháng 5 năm 2020 và ngày 05 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2019/TLST- DS ngày 13 tháng 8 năm 2019 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2020/QĐST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2020/QĐST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2020 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 08/2020/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975 và ông Hồ Văn C, sinh năm 1969; cùng cư trú tại: Tổ 23, ấp X 2, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; “bà Đ có mặt, ông C vắng mặt”. - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Kiều D, sinh năm 1981; cư trú tại: Số 1226, ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; theo văn bản ủy quyền ngày 07/10/2019; “vắng mặt có đơn xin”. - Bị đơn: Ông Phan Công Đ, sinh năm 1969; cư trú tại: Tổ 23, ấp X 2, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 09/8/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ, ông Hồ Văn C, chị Lê Thị Kiều D trình bày: Vợ chồng bà Đ, ông C có phần đất có diện tích 11.000m2 thuộc thửa đất số 302, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp X 2, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/4/2012. Năm 2018, ông Đ khởi kiện vợ chồng bà Đ yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần đất trên. Trong quá trình vụ án đang được giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện C thì ông Đ liên tục có hành vi ngăn cản gia đình bà Đ trồng hoa màu trên đất. Sau khi Tòa án nhân dân huyện C xét xử, vụ án bị kháng cáo. Trong thời gian này, ông Đ ngăn cản không cho gia đình bà Đ đưa máy cày đổ rò trồng mì làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình bà Đ. Hành vi của ông Đ đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản, gây thiệt hại, tổn thất cho vợ chồng bà Đ. Khi vợ chồng bà Đ có ý định bán đất, ông Đ cũng ngăn cản không cho ai mua. Nay vợ chồng bà Đ khởi kiện, yêu cầu ông Đ bồi thường thiệt hại số tiền 20.000.000 đồng, cụ thể: Tiền cày đất 3.200.000 đồng, tiền trồng mì 3.000.000 đồng, tiền công chặt cây mì 1.000.000 đồng, tiền diêm và tiền công rải diêm 11.000.000 đồng, tiền thuốc và tiền công xịt cỏ 1.000.000 đồng, tiền công gom cây mì 800.000 đồng. - Theo các lời khai trong quá trình làm việc, bị đơn ông Phan Công Đ trình bày: Năm 2015, cha ông Đ là ông Nguyễn Văn B gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã T tranh chấp phần đất tại ấp X 2, xã T với vợ chồng bà Đ. Năm 2016 cha ông Đ chết nên ông đứng ra khởi kiện tranh chấp thừa kế phần đất trên đối với vợ chồng bà Đ. Vụ án được Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết. Tháng 11/2018, vợ chồng bà Đ chuẩn bị đất để trồng mì trên phần đất đang tranh chấp, do đó ông ngăn cản không cho cháu ruột ông giúp bà Đ đổ rò trồng mì. Lúc ông ngăn cản thì ông thấy đất đã được cày và công chuẩn bị xuống để trồng mì. Bà Đ trình bày ông cầm dao rựa đuổi chém ông C là không đúng và ông cũng không có hành vi cản trở người vào mua đất. Nay vợ chồng bà Đ yêu cầu ông bồi thường thiệt hại số tiền 20.000.000 đồng, ông không đồng ý với lý do đất này là đất của cha mẹ ông, không phải đất của vợ chồng bà Đ. Ông đang khiếu nại tại Tòa án cấp cao để xem xét lại bản án của Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm tỉnh Tây Ninh. Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại số tiền 18.160.000 đồng, gồm các khoản sau: Tiền cày đất 3.200.000 đồng, tiền cây mì 1.600.000 đồng, tiền công chặt cây mì 560.000 đồng, tiền diêm và tiền công rải diêm 11.000.000 đồng, tiền thuốc và tiền công xịt cỏ 1.000.000 đồng, tiền công gom cây và công dọn đất 800.000 đồng. Bị đơn, ông Đ không đồng ý bồi thường, cho rằng bà Đ đã sử dụng đất và hưởng lợi tức trên đất của cha ông nhiều năm, khấu trừ số tiền trên nên ông không phải bồi thường. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của vợ chồng bà Đ, ông C. Về án phí: Ông Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Vợ chồng bà Nguyễn Thị Đ, ông Hồ Văn C có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản đối với ông Phan Công Đ có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Tây Ninh; căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Thị Kiều D vắng mặt có đơn xin, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị. [2] Về nội dung vụ án: Vào thời gian tháng 12/2018, giữa bà Đ, ông C và ông Đ tranh chấp về thừa kế tài sản đối với phần đất diện tích ngang 25m x dài 50m tọa lạc tại ấp X 2, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quá trình bà Đ, ông C canh tác trên đất thì bị ông Đ cản trở, gây thiệt hại. Ông Đ cũng thừa nhận hành vi cản trở bà Đ đổ rò trồng mì. Ông Đ cho rằng đất đang tranh chấp, bà Đ không có quyền sản xuất, canh tác trên đất nhưng ông lại không yêu cầu Tòa án can thiệp mà tự ý ngăn chặn, gây thiệt hại cho gia đình bà Đ. Bản án phúc thẩm dân sự số: 159/2019/DS-ST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh cũng đã giao quyền sử dụng đất cho bà Đ, ông C. Như vậy, ông Đ đã có lỗi toàn bộ trong việc thiệt hại về tài sản của vợ chồng bà Đ. Do đó, yêu cầu của vợ chồng bà Đ là có cơ sở chấp nhận. [3] Đối với các khoản bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa bà Đ yêu cầu bồi thường thiệt hại 18.160.000 đồng, rút một phần yêu cầu bồi thường số tiền là 1.840.000 đồng. Quá trình thu thập chứng cứ có cơ sở xem xét số tiền bà Đ, ông C yêu cầu bồi thường là phù hợp so với thực tế nên chấp nhận yêu cầu của ông bà. Tổng cộng cần buộc bị đơn bồi thường thiệt hại số tiền 18.160.000 đồng là phù hợp. Do nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện nên đình chỉ một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với số tiền 1.840.000 đồng. [4] Về án phí: Ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5% trên tổng số tiền phải bồi thường cho bà Đ, ông C là 18.160.000 đồng theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 584, 585, 589 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng bà Nguyễn Thị Đ, ông Hồ Văn C đối với ông Phan Công Đ. Buộc ông Đ có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Đ, ông C số tiền 18.160.000 (mười tám triệu, một trăm sáu mươi nghìn) đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện bồi thường thiệt hại đối với số tiền 1.840.000 (một triệu, tám trăm bốn mươi nghìn) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. 2. Về án phí: Ông Đ phải chịu 908.000 (chín trăm linh tám nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Đ, ông C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho bà Đ, ông C số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006189 ngày 13/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ