- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Hoàng Thị Đ - Nguyễn Thị Ngọc G"
- Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/DS-ST Ngày: 28/8/2020 V/v: “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đức Dũng 2. Bà Lữ Kim Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Vân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 22/2020/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2020 về: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXX-ST ngày 13 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Đ – sinh năm 1963 (có mặt) Địa chỉ: 66, ấp 1, XT, Cẩm Mỹ, Đồng Nai 2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc G – sinh năm 1973 (vắng mặt) Địa chỉ: 42, ấp CD, XĐ, Cẩm Mỹ, Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2019, bản tự khai, biên bản lấy lời khai đối chất, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, phía nguyên đơn Hoàng Thị Đ trình bày:
Do giữa con gái bà và con gái bà G mâu thuẫn nhau nên con bà G đăng trên mạng xã hội nhiều nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm con gái bà. Con bà làm đơn gửi đến Công an huyện Cẩm Mỹ nên con bà G bị xử lý vi phạm hành chính. Từ đó bà G có mâu thuẫn với bà, thường xuyên nhắn tin chửi bới bà không biết dạy con bằng những từ ngữ thô tục. Bà đã nín nhịn nhưng vào ngày 05/7/2018 khi bà đi chợ XT thì gặp bà G, bị bà G đuổi đánh và dùng những lời lẽ thô tục để chửi bới tiếp. Sang ngày 06/7/2018 bà báo cáo sự việc lên Công an xã XĐ, đến ngày 05/9/2018 thì được mời lên làm việc. Bà đang ngồi làm việc trong phòng Công an xã thì bị bà G đạp cửa xông vào, tiếp tục dùng từ ngữ thô tục để chửi bới, thóa mạ xúc phạm danh dự, nhân phẩm bà. Khi được Công an xã can ngăn thì bà Giàu ra giữa sân UBND xã XĐ tiếp tục dùng lời lẽ thô tục để chửi bới xúc phạm bà, dọa đánh bà bất cứ nơi nào nếu gặp mặt. Thấy thái độ của bà G quá hung dữ nên Công an xã XĐ có cử người đưa bà về nhà.
Sau đó bà G liên tục nhắn tin điện thoại chửi bới, xúc phạm bà. Bà đã cố nín nhịn. Vậy mà trong năm 2019, bà G đi khởi kiện ông Hoàng Kim S (chồng của bà) để đi đòi nợ riêng của ông ấy thì bà G lại tiếp tục dùng điện thoại nhắn tin chửi bới, rêu rao bà ăn giựt tiền của bà G. Bà có yêu cầu bà G không được bôi xấu bà vì số nợ đó không liên quan đến bà thì bà G đăng tin lên mạng xã hội (facebook), nhắn tin và đi khắp xóm nói bà ăn giựt tiền, chửi bới bà bằng những từ ngữ thô tục nhất. Bà cảm thấy danh dự, nhân phẩm bị xúc phạm nên làm đơn khởi kiện. Khi Tòa án mời ra làm việc thì bà G đã đăng đính chính lên mạng xã hội (facebook) rằng số nợ trên là của ông S, không liên quan đến bà nhưng việc bà G dùng từ ngữ thô tục chửi bới, dọa đánh bà ở tại chợ XT và UBND xã XĐ thì bà G chưa xin lỗi, chưa cải chính thông tin nên bà yêu cầu bà G phải đăng báo Đồng Nai trong 03 kỳ liên tiếp để xin lỗi bà và bồi thường tổn thất danh dự, nhân phẩm cho bà với mức 06 tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định (1.490.000 đồng/tháng x 6 tháng = 8.940.000 đồng). Bà không yêu cầu bà G phải đăng thông tin xin lỗi bà trên mạng xã hội và tại UBND xã XĐ nữa.
* Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản lấy lời khai đối chất, biên bản hòa giải, phía bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc G trình bày:
Sự việc bà Đ trình bày là có thật nhưng vì bà Đ xúc phạm đến bà trước nên bà mới xúc phạm lại. Bà không có gì chứng minh bà Đ xúc phạm bà cả và bà xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết việc bà Đ xúc phạm, danh dự nhân phẩm của bà. Nay bà không chấp nhận bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của bà Đ vì cho rằng sự việc không đáng, chỉ là sự cãi nhau giữa hai người phụ nữ.
* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Cẩm Mỹ:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp; thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng; trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội thẩm Nhân dân, Thư ký đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật nên không có kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà Đ có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, theo quy định tại khoản 6 Điều 26 của BLTTDS.
Về tư cách tham gia tố tụng: bà Hoàng Thị Đ là nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ngọc G là bị đơn.
Về thủ tục tố tụng: bà G có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét yêu cầu này là hợp lệ nên chấp nhận.
Xét yêu cầu của các đương sự nhận thấy:
Bà Đ khởi kiện bà G vì cho rằng bà G xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà. Bà G không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ vì cho rằng do bà Đ chửi bới, xúc phạm bà trước nên bà mới chửi bới, xúc phạm lại. Bà cũng xác định đã xóa bỏ hết các tin nhắn bà Đ nhắn tin chửi bới bà, bà không có gì chứng minh bà Đ xúc phạm bà trước. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định việc bà G dùng từ ngữ thô tục để chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà Đ tại chợ XT và Ủy ban nhân dân xã XĐ là có thật. Công an xã XĐ cũng đã lập biên bản ghi nhận sự việc này. Chợ và Trụ sở Ủy ban nhân dân xã là nơi công cộng, rất đông người. Việc bà G dùng từ ngữ thô tục để chửi bới, thóa mạ và dọa đánh bà Đ là sai, vi phạm quy định của pháp luật. Điều này đã ảnh hưởng đến danh dự, uy tín và tinh thần của bà Đ.
Bà Đ yêu cầu bà G phải đăng báo Đồng Nai trong 03 kỳ liên tiếp để xin lỗi bà: Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này là phù hợp nên chấp nhận.
Đối với yêu cầu buộc bà G phải thanh toán 6 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (tương đương số tiền 8.940.000 đồng) là phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
Hội đồng xét xử nhận thấy bà G còn nhắn tin qua điện thoại, đăng lên mạng xã hội có nội dung ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bà Đ nhưng bà G đã đính chính thông tin này trên mạng xã hội (facebook), bà Đ không yêu cầu bà G phải đăng thông tin xin lỗi trên mạng xã hội nữa nên không xét. Bà Đ không yêu cầu bà G phải xin lỗi tại UBND xã XĐ nên không xét.
Xét ý kiến của vị Đại diện Viện kiểm sát: phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Về án phí:
- Bà G phải chịu án phí DSST trên số tiền phải trả cho bà Đ là 447.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 91, 147, 227, 228 của BLTTDS;
Căn cứ vào Điều 584, 585, 588, 592 của BLDS;
Căn cứ vào Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Đ.
1. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc G phải bồi thường tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm cho bà Hoàng Thị Đ 8.940.000 đồng và phải đăng thông tin cải chính, xin lỗi bà Đ trên Báo Đồng Nai trong 03 kỳ liên tiếp.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bà Giàu chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
2. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc G phải nộp 447.000 đồng án phí DSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Báo cho bà Đ biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bà G thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nôi nhaän:
TM.HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
- TAND T. Đồng Nai
Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa
- VKSND H. Cẩm Mỹ
- THADS H. Cẩm Mỹ
- Các đương sự;
- Lưu HS vụ án.
Lê Thị Tùng