- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ____________________ Bản án số: 13/2019/HSST. Ngày 05 tháng 7 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ma Thị Nghị
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khuất Thị Toàn
Bà Nguyễn Thị Tuyết
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Khánh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang, Tòa án nhân dân thành phố H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2019/HSST ngày 19/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:12/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN T; sinh ngày 11 tháng 11 năm 1983 tại tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Tổ 8, phường T, TP H, tỉnh Hà Giang ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Trung K (đã chết) và bà Trần Thị H; có vợ Lục Minh L; con: Có một con Nguyễn Ngọc A - sinh năm 2014; Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/8/2012 bị cáo đã bị Công an phường N, quận L, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực ANTT với mức phạt tiền là 1.500.000,đ. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/5/2019. “có mặt” .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 03/5/2019, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVE RS, biển kiểm soát 23B1- 024.26 (mượn của Ngụy Văn L - Sinh năm 1981, trú tại: tổ 8 phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang), mục đích đi tìm mua ma túy (Heroine) để sử dụng. Khi đi đến cổng Trường mầm non S thuộc phường M, thành phố H, thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi (hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch),T hỏi “có thuốc không”, người đàn ông trả lời “có”;T liền lấy số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) trong túi quần đưa cho người đàn ông, sau khi nhận tiền người này nói “chờ mấy phút”, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA-DREAM II, mầu sơn nâu (chưa xác định được biển kiểm soát) đi vào hướng chân núi Mỏ Neo khoảng 08 phút sau thì quay lại đưa choT một gói nhỏ ma túy (Heroine).T cầm gói ma túy (Heroine) trên tay trái, điều khiển xe mô tô đến đường L thuộc tổ 10, phường T, thành phố H,T vào cửa hàng tạp hóa của chị Vũ Lan P(Sinh năm: 1982, trú tại: tổ 10, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang) mua 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long. Tiếp đó,T đi vào đầu ngõ nối giữa đường N và đường L, thuộc tổ 8, phường T, thành phố H; tại đây,T dừng xe, mở bao thuốc lá, lấy mảnh giấy bạc để chia số ma túy (Heroine) vừa mua được ra làm hai phần, một phần gói vào mảnh giấy bạc lấy trong bao thuốc lá cho vào túi áo ngực bên trái đang mặc, phần còn lại cầm trên tay đang định mang đi sử dụng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát phòng chống ma túy Công an thành phố H phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật có liên quan theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/5/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang tiến hành mở niêm phong và cân tịnh khối lượng:
- Chất bột màu trắng (nghi là ma túy) có trong gói giấy màu trắng thu tại vị trí số 02 có khối lượng là 0,05 gam (không phẩy không năm gam).
- Chất bột màu trắng (nghi là ma túy) có trong gói giấy bạc màu vàng thu trên người Nguyễn Văn T có khối lượng là 0,09 gam (không phẩy không chín gam).
Tổng khối lượng chất bột màu trắng (nghi là ma túy) có trong 02 gói là 0,14 gam (không phẩy mười bốn gam).
Tại Kết luận giám định số 183/KL-PC09 ngày 09/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1, M2 là chất ma túy, loại ma túy Heroine. Heroine nằm trong Danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
* Vật chứng của vụ án: Căn cứ Quyết định xử lý vật chứng số: 13 ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang đã trả cho chủ sở hữu tài sản, gồm:
* Trả cho Nguyễn Đức Dũng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVE RS, màu sơn đen, biển kiểm soát 23B1-02426, số khung: RLHHC12398Y343247, số máy: HC12E - 2067557, xe đã qua sử dụng.
Số vật chứng được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hà Giang quản lý theo quy định của pháp luật, gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước có chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ GIANG; CÔNG AN THÀNH PHỐ H; SỐ ... KÍNH GỬI: VẬT CHỨNG THU GIỮ KHI BẮT QUẢ TANG NGUYỄN VĂN T”, mặt sau mép phong bì có chữ ký của thành phần tham gia lập biên bản niêm phong và con dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H.
- 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng (đã bóc) bên trong có 20 điếu thuốc lá.
- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước có chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ GIANG; PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ; SỐ ... KÍNH GỬI: MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH KÝ HIỆU M1, M2”, mặt sau mép phong bì có chữ ký của thành phần tham gia lập biên bản đóng gói, niêm phong và con dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.
Bản cáo trạng số 14/CT - VKSNDTPHG ngày 18/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ chứng minh do cơ quan Điều tra thu thập được về thời gian, địa điểm, hành vi mà bị cáo T đã thực hiện, cũng như vật chứng thu giữ được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội danh, điều luật như nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử :
-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 03/5/2019.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị xử lý theo quy định.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo pháp luật.
Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo rất hối hận và ăn năn về hành vi của mình. Bị cáo nhận thấy việc làm của bị cáo đã sai và vi phạm pháp luật, bị cáo bị xử lý là thỏa đáng. Bị cáo xin được hưởng khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đã khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 03/5/2019 tại tổ 8 phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,14 gam ma túy (Heroine) mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác Đội cảnh sát phòng chống ma túy Công an thành phố H bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy mang trên người. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn VănT đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) .........;
c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam
.........”
Về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Ma tuý là loại độc dược có tính gây nghiện cao nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm việc trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chất ma tuý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng các chất ma tuý. Trong khi bị cáo đã đủ tuổi trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma tuý, để nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo đã gây nên sự bất bình trong nhân dân, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội vì vậy việc xử lý bị cáo trước pháp luật là hoàn toàn thoả đáng và xử phạt bị cáo bằng mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Đức D: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVE RS, màu sơn đen, biển kiểm soát 23B1-02426, số khung: RLHHC12398Y343247, số máy: HC12E - 2067557, xe đã qua sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản ông D không có ý kiến đề nghị gì thêm nên không xem xét.
- Đối với số vật chứng được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hà Giang gồm:
+ 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước có chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ GIANG; CÔNG AN THÀNH PHỐ H; SỐ ... KÍNH GỬI: VẬT CHỨNG THU GIỮ KHI BẮT QUẢ TANG NGUYỄN VĂN T”, mặt sau mép phong bì có chữ ký của thành phần tham gia lập biên bản niêm phong và con dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H là những vật Nhà nước cấm lưu hành, do đó cần tịch thu tiêu huỷ.
+ 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước có chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ GIANG; PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ; SỐ ... KÍNH GỬI: MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH KÝ HIỆU M1, M2”, mặt sau mép phong bì có chữ ký của thành phần tham gia lập biên bản đóng gói, niêm phong và con dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang là những vật Nhà nước cấm lưu hành, do đó cần tịch thu tiêu huỷ.
+ 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng (đã bóc) bên trong có 20 điếu thuốc lá là vật chứng liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Nguyễn VănT còn có hình vi sử dụng trái phép chất ma túy căn cứ khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Ngày 13/6/2019 cơ quan Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt cảnh cáo đối với Nguyễn Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Trong vụ án này còn có người đàn ông (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là người đã bán ma túy (Heroine) cho Nguyễn Văn T ngày 03/5/2019. Bản thân T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, vì vậy không xác định được đối tượng để xử lý trong vụ án này. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2019.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia theo quy định của pháp luật và có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ GIANG; CÔNG AN THÀNH PHỐ H; SỐ ... KÍNH GỬI: VẬT CHỨNG THU GIỮ KHI BẮT QUẢ TANG NGUYỄN VĂN T”;
+ 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng (đã bóc) bên trong có 20 điếu thuốc lá.
+ 01 (một) phong bì niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia theo quy định của pháp luật và có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ GIANG; PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ; SỐ ... KÍNH GỬI: MẪU VẬT HOÀN TRẢ SAU GIÁM ĐỊNH KÝ HIỆU M1, M2”;
Vật chứng được bản giao tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 7 năm 2019 giữa Cơ quan Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang và Cơ quan thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hà Giang.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngàyT án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh. - VKSND tỉnh - VKSND TPH. - Công an TPH. - CQTHA Hình sự CATPH - Trại tạm giam CA tỉnh HG - Bị cáo; . - THA DS TPH. - Lưu HS - BP. - Sở Tư Pháp. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Ma Thị Nghị |