- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Tiến D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Đoàn Tiến D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2018.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 13/2019/HS-ST Ngày 26-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hóa;
Ông Nguyễn Ngọc Chinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hòe - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2019/TLHS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Đoàn Tiến D, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ dân phố số 21, thị trấn thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Mạnh Hùng, sinh năm 1946 và con bà Phạm Thị Lượng, sinh năm 1949; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thân, sinh năm 1980 hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam Ninh Khánh, tỉnh Ninh Bình; bị cáo có 2 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/12/2018 đến ngày 04/01/2019 thì chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt)
- Người chứng kiến:
1. Ông Đặng Văn H, sinh năm 1960; nơi cư trú: Tổ dân phố số 21, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Có mặt);
2. Anh Trần Văn Th, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố số 21, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/12/2018, Đoàn Tiến D đi xe buýt từ thị trấn Thịnh Long đến thị trấn Cồn mua ma túy. Tại khu vực cầu Cồn, D mua của người đàn ông không quen biết 01 gói heroin với giá 200.000đ cất giấu trong người rồi đi về. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến khu vực tổ dân phố số 21 thị trấn Thịnh Long, Đoàn Tiến D bị tổ công tác của Đồn biên phòng Cửa khẩu cảng Hải Thịnh phối hợp Công an huyện Hải Hậu phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ trong cạp quần của D 01 túi nilong bên trong có chứa 01 gói chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M); D khai là heroin mua về sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của D 01 điện thoại di động Nokia vỏ màu đen đã cũ có số IMEI1 35581309891, số IMEI2 3558120980448993 và số tiền 415.000đ.
Tại bản kết luận giám định số 1217/GĐKTHS ngày 30/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy nhỏ màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M là 0,357 gam.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKSHH ngày 25/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Đoàn Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hình vi như nội dung vụ án đã nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Hả i Hậ u giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2018 và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Đoàn Tiến D tại phiên toà được chứng minh bằng biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, bằng lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 29/12/2018, tại khu vực tổ dân phố số 21, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, tổ công tác Đồn biên phòng Cửa khẩu cảng Hải Thịnh phối hợp Công an huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Đoàn Tiến D đang cất giấu trái phép 01 gói heroine trọng lượng 0,357 gam để sử dụng. Hành vi nêu trên của Đoàn Tiến D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luậ t Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý đã và đang gây tác hại xấu cho sức khoẻ của người sử dụng; làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, làm khánh kiệt về kinh tế, phá hoại hạnh phúc gia đình và chính ma tuý là nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm, làm lan truyền nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Trong vụ án này, bị cáo Đoàn Tiến D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn, hối lỗi; bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến; bị cáo là lao động chính, một mình phải nuôi hai con ăn học vì vợ bị cáo hiện đang phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam Ninh Khánh, tỉnh Ninh Bình, bị cáo có đơn trình bày được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc ổn định, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với người thanh niên đưa ma túy cho bị cáo D ở khu vực cầu chợ Cồn do D không biết họ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số heroine trọng lượng 0,357 gam Cơ quan điều tra đã thu giữ trong vụ án là vật cấm lưu hành xét cần tịch thu tiêu huỷ. Xét chiếc điện thoại Nokia màu đen đã cũ có số IMEI1 35581309891, số IMEI2 3558120980448993 và số tiền 415.000đ là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đoàn Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Đoàn Tiến D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2018.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu M hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1217/GĐKTHS ngày 30/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định;
- Hoàn trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen đã cũ có số IMEI1 35581309891, số IMEI2 3558120980448993 và số tiền 415.000đ (bốn trăm mười lăm nghìn đồng).
(Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao vật chứng, Biên lai thu tiền số AA/2012/07626 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu lập cùng ngày 30/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Đoàn Tiến D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh: 01 bản; - VKSND Tỉnh + huyện: 02 bản; - Chi cục THADS huyện: 01 bản; - Công an huyện: 02 bản; - UBND thị trấn Thịnh Long: 01 bản; - Bị cáo: 01 bản; - Lưu hồ sơ vụ án: 02 bản; - Lưu văn phòng. | Phạm Văn Thung |