vanban.org

Bản án 13/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 30/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Võ Hà G phạm tội "Trộm cắp tài sản". Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hà Giang - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU PHONG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:13/2019/HS-ST
Ngày 30-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Ninh và ông Nguyễn Ngọc Tiến.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Huân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2019/HSST ngày 06/8/2019 đối với bị cáo: Võ Hà G, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1992; nơi cư trú: Khu phố 3, phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ văn hoá: 09/12; giới tính: Nam; con ông Võ Chí T, sinh năm 1946 và bà Cao Thị L, sinh năm 1952, đều trú tại: Khu phố 3, phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; vợ: Hồ Thị Cẩm L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố 3, phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; con: Có 01 người con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Qúa trình nhân thân:

+ Ngày 29/6/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 31/2010/HSST ngày 29/6/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

+ Ngày 23/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 18/2010/HSST ngày 23/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

+ Ngày 10/01/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 02/2011/HSST ngày 10/01/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

+ Ngày 12/12/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 113/2014/HSST ngày 12/12/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/4/2019 đến ngày 06/5/2019 thì được tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Cao Xuân Q, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1986 (vợ ông Q), đều trú tại: Thôn Liên Phong, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Cẩm L, sinh năm 1986 (vợ bị cáo Võ Hà G); nơi cư trú: Khu phố 3, phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.

* Người làm chứng: Ông Trần Đức H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Liên Phong, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do tìm hiểu từ trước và biết được nhà vợ chồng ông Cao Xuân Q và bà Nguyễn Thị Phương L ở thôn Liên Phong, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị thường sơ hở trong việc quản lý tài sản nên Võ Hà G, sinh năm 1992, hiện trú tại khu phố 3, phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 30/4/2019, G điều khiển xe mô tô hiệu Vision màu đỏ, biển kiểm soát 74C1-394.30 từ thành phố Đông Hà vào trước nhà ông Q. Khi vào đến nhà ông Q, G quan sát thấy cửa nhà đóng nhưng không có người ở nhà nên G dựng xe trước nhà rồi đi bộ vòng ra phía sau nhà bếp đột nhập vào bên trong nhà, G lục soát phòng ngủ lấy trộm 29.000.000 đồng và 01 điện thoại hiệu Samsung J3 màu đen, sau đó tiếp tục đi lên phòng khách lấy trộm 01 chiếc tivi hiệu Samsung Smart TV màu đen mang ra phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà cất giấu. Qua rà soát các đối tượng nghi vấn, khoảng 15 giờ cùng ngày Công an huyện Triệu Phong đã triệu tập G đến làm việc, tại đây Giang đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Thông qua lời khai của Giang, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Giang tại khu phố 5, phường Đông Thanh và thu giữ toàn bộ tài sản G đã lấy trộm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KLĐG ngày 17/5/2019, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Triệu Phong, kết luận: Giá trị của 01 chiếc tivi hiệu Samsung Smart TV màu đen 49 inch tại thời điểm chiếm đoạt là 11.770.500 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J3 Pro màu đen tại thời điểm chiếm đoạt là 2.905.000 đồng.

Tổng giá trị của toàn bộ tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 14.675.500 đồng và 29.000.000 đồng tiền mặt.

Cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 06/8/2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Võ Hà G về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Hà G phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Võ Hà G 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 30/4/2019 đến ngày 06/5/2019; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại cho bị cáo Võ Hà G 01 xe môtô nhãn hiệu Visson, màu đỏ đen biển kiểm soát 74C1 - 394.30. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 mủ bảo hiểm màu đen và 02 chiếc tất chân màu xanh của bị cáo Võ Hà G; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bà Hồ Thị Cẩm L cho rằng chiếc xe môtô nhãn hiệu Visson, màu đỏ đen biển kiểm soát 74C1 - 394.30 mà bị cáo Võ Hà G sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội tại nhà ông Cao Xuân Q và bà Nguyễn Thị Phương L vào ngày 30/4/2019 là tài sản chung của vợ chồng nhưng do bị cáo G đứng tên trong giấy đăng ký xe mô tô năm 2017. Ngày 18/8/2019, bà Hồ Thị Cẩm L cung cấp cho Tòa án các giấy tờ liên quan đến việc sở hữu chung của vợ chồng về chiếc xe mô tô nói trên và có đơn xin nhận lại tài sản là chiếc xe vì đây là tài sản chung của vợ chồng và là phương tiện đi lại của cả gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/4/2019, Võ Hà G đã lén lút đột nhập vào nhà vợ chồng ông Cao Xuân Q và bà Nguyễn Thị Phương L tại thôn Liên Phong, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị chiếm đoạt số tiền 29.000.000 đồng, 01 tivi hiệu Samsung Smart TV màu đen 49 inch và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 Pro màu đen.

Theo kết luận định giá tài sản số 22/KLĐG ngày 17/5/2019, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị kết luận: Giá trị của 01 chiếc tivi hiệu Samsung Smart TV màu đen 49 inch tại thời điểm chiếm đoạt là 11.770.500 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J3 Pro màu đen tại thời điểm chiếm đoạt là 2.905.000 đồng. Tổng giá trị của toàn bộ tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 14.675.500 đồng.

Theo kết luận giám định số 514/KLGĐ-PC09 ngày 12/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị thì số tiền 29.000.000 đồng là tiền thật.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Võ Hà G chiếm đoạt vào ngày 30/4/2019 của ông Q và bà L là 43.675.500 đồng. Hành vi nói trên của Võ Hà G đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ông Q, bà L và có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định xử phạt theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quá trình nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Võ Hà G là đối tượng hình sự, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn không chịu cải tạo bản thân trở thành người có ích cho xã hội. Từ năm 2010 đến năm 2014, bị cáo Võ Hà G đã bốn lần bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà và Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/6/2015 nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mình để phấn đấu trở thành người công dân tốt cho xã hội. Ngày 30/4/2019, Võ Hà G lại có hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi đó của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã Triệu Ái nói riêng và trên địa bàn huyện Triệu Phong nói chung, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý và bảo vệ tài sản, bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần xử lý một cách nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy: Cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Võ Hà G đã tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì: Bố, mẹ bị cáo là người có công với nước (Bố bị cáo là ông Võ Chí T được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; mẹ bị cáo bà Cao Thị L được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ).

Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Cần xử bị cáo trên mức trung bình của khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Công an huyện Triệu Phong đã tạm giữ và làm thủ tục trả lại số tiền 29.000.000 đồng, 01 tivi hiệu Samsung Smart TV màu đen 49 inch và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 Pro màu đen cho người bị hại là ông Cao Xuân Q và bà Nguyễn Thị Phương L, nay ông Q và bà L không yêu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Công an huyện Triệu Phong đã thu giữ 01 xe môtô hiệu Visson, màu đỏ đen biển kiểm soát 74C1 - 394.30 mang tên Võ Hà G; 01 mủ bảo hiểm màu đen và 02 chiếc tất chân màu xanh. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bà Hồ Thị Cẩm L (vợ bị cáo Võ Hà G) có đơn xin nhận lại tài sản là chiếc xe nói trên vì đây là tài sản chung của vợ chồng và là phương tiện đi lại của cả gia đình, Hội đồng xét xử thấy: Trong đơn trình bày của bà L có xác nhận của chính quyền địa phương và các tài liệu kèm theo như sổ hộ khẩu, Giấy đăng ký kết hôn thì có đủ cơ sở chứng minh đây là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân gia đình. Việc bị cáo dùng xe này thực hiện hành vi phạm tội thì bà L không biết nên cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo. Riêng 01 mủ bảo hiểm màu đen và 02 chiếc tất chân màu xanh, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, gắn liền với hoạt động của mỗi người lẽ ra phải trả lại cho bị cáo nhưng tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Triệu Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Võ Hà G phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Hà G 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 30/4/2019 đến ngày 06/5/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại cho bị cáo Võ Hà Giang 01 xe môtô nhãn hiệu Visson, màu đỏ đen biển kiểm soát 74C1 - 394.30.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 mủ bảo hiểm màu đen và 02 chiếc tất chân màu xanh của bị cáo Võ Hà G.

(Đặc điểm của chiếc xe mô tô, mủ bảo hiểm và tất được thể hiện theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 09/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Phong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Võ Hà G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án trên một cấp để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ