vanban.org

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Danh Thị Y được ly hôn với anh Trần Ngọc T.

2/ Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc Bảo N, sinh ngày 17/11/2011 và Trần Ngọc Phụng N1, sinh ngày 19/4/2015 cho anh Trần Ngọc T được quyền chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con. Chị Danh Thị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị Y t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa Y với T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Danh Thị Y được ly hôn với anh Trần Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 25 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 05/3/2019
V/v: “Xin ly hôn,
tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Sô Phép

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Tiến

Bà Chung Kim Sang

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục chung vụ án thụ lý số: 399/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018, về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXX-ST ngày 12 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Danh Thị Y, sinh năm 1995 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp C, xã Y, huyện B, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số nhà 306/12A đường K, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 10/10/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Danh Thị Y trình bày:

Tôi và anh T tìm hiểu yêu thương nhau sau đó mới tiến đến hôn nhân, chung sống có tổ chức lễ cưới đầu năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật và được UBND phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/5/2013. Sau khi cưới vợ chồng sống tại địa chỉ 306/12A đường K, phường Q, Tp. G, tỉnh Kiên Giang.

Nguyên nhân xin ly hôn: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng cuối năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẩn về vấn đề kinh tế gia đình, nên thường xuyên xảy ra cự cãi bất hòa. Vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng cuối năm 2015 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên tôi làm đơn xin ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị Y xác định có 02 người con chung tên Trần Ngọc Bảo N, sinh ngày 17/11/2011 và Trần Ngọc Phụng N1, sinh ngày 19/4/2015, hiện nay đang sống với anh T. Tôi yêu cầu giao 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Danh Thị Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Danh Thị Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Trần Ngọc T trình bày tại bản tự khai: Tôi đồng ý ly hôn với cô Danh Thị Y và đồng ý nuôi hai con chung là Trần Ngọc Bảo N, Trần Ngọc Phụng N1 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Danh Thị Y khởi kiện yêu cầu “xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” với anh Trần Ngọc T. Do đó, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn anh Trần Ngọc T vẫn vắng mặt không rõ lý do và chị Y đồng ý xét xử vắng mặt anh T. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Trần Ngọc T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Y và anh T tự quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào đầu năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật và được UBND phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/5/2013 theo quy định của pháp luật về Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống vợ chồng chị Y và anh T không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc. Giữa chị Y và anh T tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, mâu thuẩn về kinh tế gia đình, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn và vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2015. Phía anh T có ý kiến đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Y. Mặc khác, chị Y và anh T từ khi sống ly thân đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh T là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ những cơ sở nhận định trên, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh T.

Về quan hệ con chung: Chị Danh Thị Y xác định vợ chồng chung sống có 02 người con chung tên Trần Ngọc Bảo N, sinh ngày 17/11/2011 và Trần Ngọc Phụng N1, sinh ngày 19/4/2015, hiện đang sống chung với anh T. Chị Y đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị Y không cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai anh T đồng ý nuôi dưỡng con chung là Trần Ngọc Bảo N và Trần Ngọc Phụng N1, không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con, đồng thời tại biên bản trình bày nguyện vọng ngày 22/01/2019 cháu Bảo N có nguyện vọng muốn sống cùng cha là anh T khi cha mẹ ly hôn. Nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Trần Ngọc Bảo N, Trần Ngọc Phụng N1 cho anh T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Do anh T không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Danh Thị Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về nợ chung: Chị Danh Thị Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Danh Thị Y là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Danh Thị Y được ly hôn với anh Trần Ngọc T.

2/ Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc Bảo N, sinh ngày 17/11/2011 và Trần Ngọc Phụng N1, sinh ngày 19/4/2015 cho anh Trần Ngọc T được quyền chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con.

Chị Danh Thị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị Y thực hiện quyền này.

3/ Về tài sản chung: Chị Danh Thị Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Về nợ chung: Chị Danh Thị Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5/ Về án phí: Buộc chị Danh Thị Y phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, chị Y được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000268 ngày 14/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ