- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà N yêu cầu ly hôn với ông C, yêu cầu được quyền nuôi dưỡng 02 con chung, nợ chung, tài sản chung: không có."
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2019 V/v Tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Lâm Tới;
Ông Ngô Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện
Tịnh Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên
tòa: Ông Phạm Hoàng Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2019 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1990, cư trú: t2, ấp T, xã
T, huyện C, tỉnh A, có mặt;
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1989, cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh
A, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ghi ngày 10 tháng 01 năm 2019 và lời khai trong quá
trình giải quyết tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông C tìm hiểu và được gia đình hai bên tổ chức lễ
cưới, có đăng ký kết hôn ngày 30 tháng 01 năm 2012 theo bản sao trích lục kết hôn số 02/2019/TLKH-BS ngày 04 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh A. Sau khi cưới vợ chồng cùng đi làm công nhân ở Bình Dương, trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm, hay cãi vả. Từ tháng 11 năm 2018 vợ chồng không còn sống chung nữa và không còn liên lạc với nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Do đó, bà N yêu cầu ly hôn với ông C.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Đỗ Trung K, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2010 và Đỗ Trung Q, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2014. Hiện tại do bà N nuôi dưỡng, bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Đỗ Văn C đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
- Ý kiến trình bày của cháu Đỗ Trung K: Nếu cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ Nguyễn Thị Yến N.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng các nghĩa vụ theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông C có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy về tình cảm giữa bà N và ông C không còn hạnh phúc, từ tháng 11 năm 2018 thì bà N và ông C đã không còn sống chung với nhau nữa, bỏ mặt không quan tâm lẫn nhau, bà N vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông C. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.
+ Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Đỗ Trung K, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2010 và Đỗ Trung Q, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2014. Từ sau khi bà N và ông C không còn chung sống với nhau, con chung đều do bà N nuôi dưỡng. Cháu Kiên đã trên 9 tuổi có nguyện vọng được sống với mẹ và cháu Quân được hơn 4 tuổi. Mặc khác, để đảm bảo điều kiện sinh hoạt, không làm thay đổi cuộc sống của các cháu và phù hợp với nguyện vọng của cháu Trung Kiên, cần tiếp tục giao con chung cho bà N nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng bà N không yêu cầu, nên không xem xét.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung:
Không có.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 và Điều 81, 82, 83, 84
của Luật hôn nhân và gia đình 2014 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Yến N.
Tại phiên tòa hôm nay, ông C vắng mặt. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến
N vẫn giữ nguyên yêu cầu và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn ông Đỗ Văn C đã được Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên triệu
tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Đỗ Văn C có đăng ký hộ khẩu
thường trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà N và ông C sống và có con chung từ năm 2010, nhưng
đến ngày 30 tháng 01 năm 2012 mới đăng ký kết hôn theo bản sao trích lục kết hôn số 02/2019/TLKH-BS ngày 04 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã Tân Phú, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Tuy nhiên, thì bà N và ông C vẫn đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo pháp luật. Xét thấy về tình cảm bà N và ông C không còn hạnh phúc, từ tháng 11 năm 2018 cả hai bỏ mặt không còn quan tâm, chung sống với nhau, theo kết quả xác minh ngày 09 tháng 5 năm 2019 tại ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn xác định “...về tình trạng hôn nhân của bà N, ông C địa phương không rõ. Tuy nhiên trong mỗi lần về nhà thì chỉ thấy một mình ông C mà không thấy bà N về”. Như vậy, thấy rằng giữa bà N và ông C đã không còn quan tâm bỏ mặt, không còn chung sống với nhau, thấy rằng đời sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử thấy rằng bà Nguyễn Thị Yến N xin ly hôn là có căn cứ.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Đỗ Trung K, sinh ngày 05 tháng
01 năm 2010 và Đỗ Trung Q, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2014. Xét về yêu cầu thấy rằng, từ sau khi không còn chung sống, con chung đều do bà N nuôi dưỡng, đến nay cháu Quân được hơn 4 tuổi, còn cháu Trung Kiên đã trên 9 tuổi và có nguyện vọng được sống với mẹ, nên khi xem xét giao con chung cũng xem xét đến nguyện vọng của con. Do đó, cần giao con chung cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng và phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con: bà N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Do đó, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Yến N khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự hôn nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông Đỗ Văn C không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Yến N và ông Đỗ Văn C.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung Đỗ Trung K, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2010 và Đỗ Trung Q, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2014 cho bà Nguyễn Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ông Đỗ Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Yến N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Đỗ Văn C quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá
nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Yến N phải chịu
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0014644 ngày 21 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên, bà N đã nộp xong.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2012, ngày 30 tháng 12 năm 2012 của Ủy
ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh A không còn giá trị pháp lý.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.
| * Nơi nhận: - Các đương sư; - VKSND h.Tịnh Biên; - Chi cục THADS h.TB; - Tòa án nhân dân tỉnh; - UBND xã T, huyện C, tỉnh A; - Lưu HS & VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Ngọc Mỹ |