vanban.org

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh P; Cho anh Trần Thanh P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy K.

Về con chung: Anh Trần Thanh P được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Kim N, sinh ngày 02/3/2003 là phù hợp với nguyện vọng của con chung được sống chung với anh P. Anh Trần Thanh P không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thúy K phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn ngư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh P; Cho anh Trần Thanh P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 5 - 2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bé

2. Ông Thạch Khêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2019, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 85/2019/TLST-HNGĐ, ngày 12/02/2019, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST- HNGĐ, ngày 25/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2019/QĐST – HNGĐ, ngày 25/4/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Thanh P, sinh năm 1977, có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt;

Cư trú tại: Ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1984, vắng mặt;

Cư trú tại: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/01/2019, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trần Thanh P trình bày:

Về hôn nhân: Vào ngày 06/01/2002, anh P có xác lập quan hệ hôn nhân với chị Nguyễn Thị Thúy K và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 con chung tên Trần Thị Kim N, sinh ngày 02/3/2003, hiện đang sống chung với anh. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được 05 năm, sau đó thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đến ngày 30/4/2006, chị K bỏ nhà ra đi nhưng anh cũng biết nguyên nhân vì sao, anh đã nhiều lần kêu chị K về sống chung để hai vợ chồng đoàn tụ lại nhưng chị K vẫn không chịu về. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng không thể nào hàn gắn lại được và không thể nào tiếp tục sống chung. Anh Trần Thanh P yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy K.

Về con chung: Anh P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Thị Kim N, sinh ngày 02/3/2003, anh P không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu xem xét, giải quyết. Nguyên đơn anh Trần Thanh P có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Thanh P đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ sau đây: 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân (Bản phô tô); 01 (Một) sổ hộ khẩu (Bản phô tô); 01 (Một) giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển 01/2002 do Ủy ban nhân dân xã V cấp ngày 06/01/2002; 01 (Một) giấy khai sinh của Trần Thị Kim N (Bản phô tô).

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc yêu cầu cung cấp chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hợp lệ cho chị Nguyễn Thị Thúy K nhưng chị K không đến Tòa án tham gia tố tụng và Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của chị K được và chị K cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn theo thông báo mà Tòa án đã tống đạt nên không thể xác định những tình tiết nào của vụ án các bên thống nhất và không thống nhất. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy K chưa chấp hành đúng theo quy định về việc có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thị Thúy K đã có mâu thuẫn trầm trọng, hai vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên đề nghị Hội đồng xét xử cho anh P được ly hôn với chị K; Về con chung: Cho anh P được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Trần Thị Kim N, sinh ngày 02/3/2003 là phù hợp với nguyện vọng của cháu N muốn sống chung với anh P. Anh P không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên đề nghị không xem xét, giải quyết; Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Thanh P có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt đúng theo quy định; Bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án vắng mặt anh P, chị K.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thị Thúy K kết hôn với nhau vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo quy định của pháp luật. Xét thấy hôn nhân của anh chị là hợp pháp, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên trong thời gian sống chung vợ chồng anh có những mâu thuẫn không thể điều hoà được dẫn đến việc anh P xin ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh P xác định giữa anh và chị K không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau. Anh và chị K đã sống ly thân hơn 13 năm nay, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, bỏ mặc nhau và ai muốn sống ra sao thì sống. Trong khoảng thời gian sống ly thân cũng không ai tìm đến ai, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh P và chị K đã mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nếu có duy trì thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho anh Trần Thanh P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy K.

Về con chung: Xét thấy, trong thời gian sống ly thân thì con chung Trần Thị Kim N, sinh ngày 02/3/2003 do anh Phong trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Phong vẫn đảm bảo nuôi dưỡng con tốt. Anh P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, chị K không có ý kiến. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung và để tránh gây xáo trộn sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của con chung chấp nhận cho anh Trần Thanh P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp với nguyện vọng của cháu N muốn sống với anh Phong. Anh Trần Thanh P không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thúy K cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Trần Thanh P khai anh và chị K không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Do Tòa án không thể làm việc trực tiếp với chị Nguyễn Thị Thúy K để biết ý kiến của chị K như thế nào về tài sản chung và chị K có tranh chấp về tài sản chung với anh P hay không. Vì vậy, nếu sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Thúy K có tranh chấp về tài sản với anh P thì chị Nguyễn Thị Thúy K được quyền khởi kiện vụ án tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn với anh Trần Thanh P.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay về việc giải quyết vụ án là có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh P; Cho anh Trần Thanh P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy K.

2. Về con chung: Anh Trần Thanh P được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Kim N, sinh ngày 02/3/2003 là phù hợp với nguyện vọng của con chung được sống chung với anh P. Anh Trần Thanh P không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thúy K phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Anh Trần Thanh P khai không có nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Thúy K có tranh chấp về tài sản chung thì chị Nguyễn Thị Thúy K được quyền khởi kiện vụ án tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn với anh Trần Thanh P.

4. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Anh Trần Thanh P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001395, ngày 11/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần. Anh Trần Thanh P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Thúy K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Thanh P, chị Nguyễn Thị Thúy K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ